Đừng chống lại chu kỳ kinh tế
Những chính sách kinh tế đã được thực thi có thể coi là chính sách chuẩn mà các nước khác về cơ bản cũng sẽ làm như vậy trong một hoàn cảnh tương tự…
Tôi không phủ nhận rằng đã có những sai lầm về mặt chính sách trong quá khứ dẫn đến tình trạng kinh tế vĩ mô hiện tại.
Với tôi, nền kinh tế Việt Nam từ đầu năm 2008 đang trải qua một “cuộc hạ cánh đầy bất trắc” (hard landing) sau thời kỳ phát triển quá nóng. Khách quan mà nói, bên cạnh những sai lầm chủ quan thì đằng sau cuộc “hạ cánh đầy bất trắc” này còn có những những qui luật tất yếu của chu kỳ kinh tế.
Nguyên nhân lạm phát
Chính phủ Việt Nam, tuy có chậm, nhưng đã thực thi giải pháp này trong giai đoạn 2002-2007 với kết quả là nền kinh tế đã tăng trưởng trở lại và lạm phát cũng quay trở lại.
Diễn tiến kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1998-2007 là một chu kỳ kinh tế điển hình và những chính sách kinh tế đã được thực thi có thể coi là chính sách chuẩn (textbook policies) mà các nước khác về cơ bản cũng sẽ làm như vậy trong một hoàn cảnh tương tự.
Thế rồi, cũng như Alan Greenspan đã tăng lãi suất quá chậm sau giai đoạn 2002, NHNN Việt Nam đã không nhận ra mối nguy hiểm tiềm tàng của sự trở lại của lạm phát vào năm 2005 để có chính sách thắt chặt tiền tệ hợp lý. Càng không may hơn khi giai đoạn 2003-2007 thị trường tài chính thế giới tràn ngập vốn từ các nước có thặng dư mậu dịch với Mỹ và các nước xuất khẩu dầu mỏ.
Việt Nam bỗng chốc được nhiều nhà đầu tư chú ý như là một điểm đến hấp dẫn sau hàng loạt những báo cáo rất khả quan về triển vọng kinh tế của các tổ chức quốc tế và các ngân hàng đầu tư lớn. Dòng vốn nước ngoài vì vậy đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều, tất yếu dẫn đến tăng cung tiền khi NHNN cố gắng giữ tỷ giá USDVND cố định.
Đến cuối giai đoạn 2002-2007 nền kinh tế đã phát triển quá nóng, không chỉ biểu hiện qua lạm phát gia tăng từ cuối năm 2004 mà còn qua sự quá tải của hệ thống cơ sở hạ tầng như giao thông, điện lực mà bất kỳ ai cũng quan sát được.
Khi không còn năng lực sản xuất dự phòng để hấp thụ lượng tín dụng đang tăng nhanh chóng, điều tất yếu là lạm phát. Việc cố gắng giữ tỷ giá cố định khi nền kinh tế bị lạm phát cao dẫn đến tỷ giá thực của VND tăng lên, cộng với thâm hụt ngân sách ngày càng lớn, dẫn đến cán cân thương mại xấu dần.
Khi thị trường chứng khoán và bất động sản lên cơn sốt trong giai đoạn 2006-2007 nhiều người cho rằng đây chỉ là bong bóng đầu cơ. Tuy nhiên, nếu đặt trong hoàn cảnh tỷ giá thực gia tăng và thâm hụt thương mại lớn (thặng dư tài khoản vốn) thì điều này hoàn toàn lý giải được.
Theo tôi, sẽ là sai lầm nếu đổ nguyên nhân lạm phát cho việc NHNN giữ chính sách tiền tệ nới lỏng quá lâu. Đó là hậu quả tất yếu theo nguyên tắc tam pháp bất tương đồng. Nhìn vào quá khứ từ thời điểm này có thể dễ dàng nhận ra sai lầm của NHNN, nhưng vào lúc đó khó ai có thể có tầm nhìn xa như vậy.
Cũng tương tự, không chỉ Alan Greenspan không nhận ra mối nguy hiểm của chính sách của mình, đại đa số các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà kinh tế cũng không lường được mối nguy hiểm của sự tăng trưởng tín dụng trên thị trường tài chính thế giới mà mắt xích yếu nhất là thị trường cho vay bất động sản dưới chuẩn của Mỹ. Bằng chứng là toàn bộ giới tài chính quốc tế đã hoàn toàn bất ngờ khi cuộc khủng hoảng trong thị trường này xảy ra.
Nhưng sai lầm trong phân tích dự báo kinh tế là điều không thể tránh khỏi và bất kỳ ai cũng có thể lặp lại.
Cá nhân tôi, trong vai trò của một người cũng làm công tác phân tích và dự báo kinh tế, hoàn toàn thông cảm với NHNN và Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2002-2007.
Sai lầm này, để tổng cầu và tín dụng tăng quá cao dẫn đến lạm phát và thâm hụt cán cân thương mại, một phần còn do phải chạy theo mục tiêu tăng trưởng.
Phản ứng của NHNN Việt Nam
Khi giá dầu mỏ và lương thực thế giới tăng mạnh từ nửa cuối 2007, lạm phát tại Việt Nam bị đẩy lên đến ngưỡng nguy hiểm, một phần nền kinh tế Việt Nam lúc này đã quá mở, một phần vì tỷ trọng năng lượng và thực phẩm trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam cao hơn nhiều nước.
Dường như điều này làm các nhà hoạch định chính sách Việt Nam bừng tỉnh khỏi giấc mơ “Các chu kỳ kinh tế đã chết – Tăng trưởng sẽ là vĩnh viễn” (“Business cycle is dead – permanent growth is here to stay”) mà nhiều nhà kinh tế trên thế giới cũng đã mơ tưởng.
|
|
| Theo Morgan Stanley trong đồ thị trên, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã bắt đầu chu kỳ thắt chặt tiền tệ từ giữa năm 2004 theo chân chính sách của Alan Greenspan tại FED vào thời điểm đó. Như vậy NHNN VN đã bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ chậm hơn 3 năm so với các ngân hàng trung ương khác. |
Như đã phân tích trong một vài bài viết gần đây, tôi cho rằng chính sách thắt chặt tiền tệ vào lúc này là đúng.
Tuy nhiên cách NHNN thực hiện có thể tạo ra nhiều rủi ro cho hệ thống các NHTM. Theo tôi, NHNN đã có một sự ngộ nhận về vai trò của M0 và M2 đối với lạm phát. Cốt lõi của vấn đề là các ngân hàng trung ương có thể kiểm soát trực tiếp được M0, nhưng M2 mới có ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát mà các ngân hàng trung ương chỉ có thể tác động gián tiếp đến M2.
Sai lầm này, cũng vì nhầm tưởng tăng thanh khoản sẽ làm tăng M0 và làm lạm phát tăng cao, xét cho cùng lại là một sai lầm đáng tiếc.
Việc đẩy hệ thống ngân hàng vào một cuộc khủng hoảng, dù có thể chỉ bắt đầu bằng khó khăn thanh khoảng, là một điều rất nguy hiểm. Cuộc Đại Khủng hoảng (Great Depression) của Mỹ năm 1929-1933 có nguyên nhân lớn từ sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng.
Một số học giả cho rằng, trong giai đoạn 1929-1933 lẽ ra Mỹ chỉ phải trải qua một cuộc suy thoái nhẹ theo đúng qui trình của chu kỳ kinh tế lúc đó nếu FED đã không sai lầm. Bài học này được FED và các ngân hàng trung ương khác rút kinh nghiệm nên trong bất kỳ trường hợp nào sự ổn định của hệ thống ngân hàng cũng được đặt lên hàng đầu, bất chấp những hậu quả xấu có thể có trong dài hạn.
Đó chính là lý do LTCM, Northern Rock, Bear Stearns đã được giải cứu dù nhiều người lo ngại điều này sẽ làm tăng tính rủi ro do tâm lý ỷ lại trong tương lai.
Joseph Schumpeter, người đầu tiên đưa ra khái niệm chu kỳ kinh tế, đã cho rằng các kỳ suy thoái kinh tế, mặc dù làm giảm mức sống của đa số dân chúng, cũng đem lại một lợi ích to lớn mà ông gọi là “sự phá hủy có tính sáng tạo” (creative destruction).
