Đó là nhận định
của TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài
chính quốc gia, khi trao đổi với phóng viên Báo Người
Lao Động xoay quanh mục tiêu tăng trưởng kinh tế của
năm 2010
Phóng viên: Thưa
ông, năm 2009, chúng ta đã ngăn chặn được đà suy giảm
kinh tế. Năm 2010, mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5% sẽ là
thách thức lớn đối với nền kinh tế VN? TS Lê Xuân
Nghĩa: Đúng vậy! Năm 2009, tăng trưởng kinh tế VN đạt
5,3% có sự đóng góp 1,3% của việc giảm nhập siêu. Như
vậy, tăng trưởng GDP thực chỉ 4%.
Năm 2010, Chính phủ
đưa ra mục tiêu tăng trưởng GDP là 6,5% nhưng nhập siêu
tăng khoảng 20%-25%, tức là giảm trừ vào GDP 1,5%. Nói
cách khác muốn có GPD 6,5% thì GDP thực phải tăng trưởng
8%, gấp đôi năm 2009 là rất khó khăn. Điều này đòi
hỏi chính sách tài khóa và tiền tệ phải thay đổi.
Nền kinh tế VN
đi lên hay không phụ thuộc vào đầu tư của Chính phủ,
đầu tư nước ngoài và khối doanh nghiệp (DN) tư nhân.
Thế nhưng năm 2010, đầu tư của Nhà nước giảm 20.000
tỉ đồng so với năm trước, trong khi đầu tư của năm
2009 chỉ giải ngân được 50% so với dự kiến ban đầu.
Đầu tư nước ngoài có dấu hiệu tăng lên nhưng rất
chậm, còn đầu tư vào khu vực DN tư nhân đã giảm từ
quý III/2009. Nếu đầu tư khu vực DN tư nhân không tăng
lên thì nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế năm 2010 là hết
sức khó khăn. Đó là một thách thức lớn của kinh tế
vĩ mô và cũng là một thách thức đối với chính sách
tài khóa và tiền tệ.
Quan điểm của
ông thế nào khi nhiều người lo ngại lạm phát gia tăng?
Hiện cung tiền
rất thấp bởi Ngân hàng (NH) Nhà nước đã bán hàng tỉ
USD để hút VNĐ về, đồng thời tiền dự trữ của các
NH và tiền dự trữ của NH thương mại tại NH Nhà nước
gần như không tăng nên các yếu tố này ảnh hưởng
không đáng kể đến lạm phát.
Điều mà chúng ta cần
lưu ý là giá dầu thô, giá lương thực thực phẩm tăng
đột biến, tỉ giá hối đoái có thể tăng làm tăng giá
hàng hóa nhập khẩu nên tác động đến lạm phát. Năm
2010, GDP tăng trưởng 6,5%, lạm phát tăng lên 8%/năm là
bình thường.
Một trong những
yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô là tỉ giá hối
đoái. Vậy thị trường ngoại tệ sẽ diễn biến như
thế nào?
Thanh khoản
ngoại tệ và tỉ giá hối đoái là vấn đề lớn của
kinh tế vĩ mô. Yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ
giá là lãi suất. Cụ thể, năm 2009, VNĐ được hỗ trợ
4% lãi suất nhưng không hỗ trợ lãi suất cho ngoại tệ
khiến lãi suất USD thấp so với VNĐ là nguyên nhân làm
thanh khoản ngoại tệ suy yếu và tỉ giá tăng.
Mặt khác,
do tỉ giá cứng nhắc trong thời gian dài nên người dân
kỳ vọng tỉ giá tăng lên dù số lượng USD tại VN không
nhỏ. Khi đó, một lượng lớn USD sẽ bị đẩy ra khỏi
lưu thông, đi vào ngăn kéo người dân và nằm bất động
trên tài khoản của DN. Việc tăng lãi suất cơ bản vào
cuối năm 2009 là để hỗ trợ cho VNĐ khi mà trước đó
tỉ giá đã được tăng lên.
Năm 2010, VN bãi
bỏ hỗ trợ 4% lãi suất vay vốn lưu động nhưng tiếp
tục hỗ trợ 2% lãi suất vay vốn trung dài hạn và khu
vực nông nghiệp và nông thôn.
Tuy nhiên, hai khu vực này
lại chiếm tỉ trọng lớn của nền kinh tế nên thanh
khoản ngoại tệ vẫn còn khó khăn. Do đó, Chính phủ
phải làm thế nào để thị trường không còn kỳ vọng
tỉ giá tăng lên.
Nếu chính sách lãi suất, tỉ giá hợp
lý thì số ngoại tệ đang bị găm giữ sẽ đi vào lưu
thông, thanh khoản ngoại tệ sẽ được giải quyết.
Thế còn thị
trường tín dụng?
Do lãi suất huy
động kém hấp dẫn, nguồn vốn hạn hẹp, một số ngân
hàng rút tiền về để cho NH bạn vay với lãi suất cao
hơn, cạnh tranh từ thị trường vàng, chứng khoán, bất
động sản, ngoại tệ; đặc biệt tín dụng đen bắt đầu
bùng phát nên thị trường tín dụng có xu hướng giảm
mạnh. Hiện có đến 60% DN sống bằng vốn tự có và
vốn vay từ tín dụng đen với lãi suất 4%/tháng.
Điều
kỳ lạ là các nhà hoạch định chính sách e ngại các NH
chạy đua lãi suất nên đã cào bằng lãi suất huy động
và lãi suất cho vay. Việc khống chế lãi suất đầu vào
và đầu ra theo lãi suất cơ bản được cho là một thất
bại mà khủng khoảng tài chính toàn cầu mang đến cho
VN. Vì thế, việc thay đổi quy định về lãi suất cơ
bản là hết sức cần thiết.
Theo Thy Thơ
NLĐ