Dù NHNN đã vào cuộc thanh
tra, kiểm tra lãi suất từ ngày 11/1/2010, các ngân
hàng vẫn đang thu phí cho vay 4-6%/năm, vẫn thực hiện
trả lãi trước cùng các hình thức khuyến mãi
đẩy lãi suất huy động thực tế cao hơn 10,5%.
Vì sao lại có sự hoạt động
tiền tệ trái quy định như vậy?
Nếu NHNN chấp nhận cho thu phí
thì phải bỏ trần lãi suất cơ bản, còn nếu để trần
lãi suất, phải xử lý dứt điểm việc thu phí nhằm lập
lại kỷ cương trong hoạt động tín dụng.
“Ngay thẳng” thì thiệt
Có một thực tế là tiền huy
động của những ngân hàng chấp hành đúng quy định
trần lãi suất của NHNN đang chảy sang những ngân hàng
“xé rào” lãi suất.
Đại diện một ngân hàng quốc
doanh cho biết: “Các khoản tiền gửi đến hạn hầu hết
đều ra đi mà không tái tục kỳ hạn mới. Khách hàng
yêu cầu nâng lãi suất, nhưng chúng tôi không thể làm
như các tổ chức tín dụng cổ phần. Thật không công
bằng” - và ông kiến nghị - “Hoặc tất cả phải cùng
được phá rào lãi suất, hoặc cùng chịu chung một quy
định. Không thể anh làm anh không. Không thể để những
ai ngay thẳng phải chịu thiệt”.
Hiện tượng nhân viên các ngân
hàng gọi điện đến các khách hàng có khoản tiền gửi
từ 10 tỉ đồng trở lên để thỏa thuận lãi suất ngày
càng phổ biến. Kỳ hạn một tháng cho khoản gửi 10 tỉ
đồng được chào mời lãi suất 12,3-12,5%/năm. Đầu vào
huy động ở mức này, thì chắc chắn không ngân hàng nào
thực sự cho vay 12%/năm.
Trên hợp đồng tín dụng, lãi
suất vay bao giờ cũng là 12%/năm, nhưng đi kèm theo nó là
muôn hình vạn trạng các loại phí, như phí quản lý tài
sản thế chấp, phí giải ngân, phí thẩm định dự án,
thậm chí cả phí theo dõi tiến độ sử dụng vốn hoặc
phí quản lý hộ tiền trong trường hợp người vay gửi
lại một tỷ lệ nhất định của khoản vay cho ngân hàng
giữ hộ…
Người vay chấp nhận trả các khoản phí đó
vì họ cần vốn và họ không có cửa để vay đúng lãi
suất quy định. Hơn nữa, “cả làng trả phí chứ đâu
phải mình tôi”!
Vì sao các ngân hàng phải thu
phí? Vì giá thành huy động đầu vào cao nên đầu ra phải
cao hơn. Không tìm cách trả thêm cho người gửi tiền,
thì họ không gửi. Ngân hàng không huy động được vốn,
lấy gì cho vay? Cầu cao mà cung thấp, giá thành đồng vốn
phải chạy lên. Quy luật bất thành văn đó đang chi phối
toàn bộ thị trường tín dụng.
Những cảnh báo từ lãi suất
liên ngân hàng
Theo thông cáo báo chí của NHNN
đăng tải trên website, tuần qua lãi suất tiền đồng
liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm giảm xuống 9%/năm, kỳ
hạn 1-2 tuần giảm còn khoảng 11%/năm, trong khi lãi suất
cho vay ngoại tệ tăng thêm chừng 0,5%/năm tùy kỳ hạn.
Có ba lý do giải thích cho sự giảm đó.
Thứ nhất là vì không vay được
tiền đồng, một số doanh nghiệp chuyển sang vay ngoại
tệ ngắn hạn với hy vọng trong thời gian vay tỷ giá hối
đoái ổn định. Do đó lãi suất vay đô la Mỹ tăng lên,
nhưng chỉ tăng chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn.
Thứ hai,
một số ngân hàng ngừng cho khách hàng vay kể từ khi
NHNN tiến hành thanh tra lãi suất. Thay vào đó họ tăng
cường cho vay trên thị trường liên ngân hàng, tạo thêm
nguồn cung cho khu vực này. Thứ ba, NHNN đã tăng gấp đôi
lượng vốn “bơm” ra thị trường thông qua kênh thị
trường mở.
Đang có những đề nghị từ
phía một số bộ, ngành liên quan yêu cầu NHNN tăng hơn
nữa khối lượng giao dịch hàng ngày của thị trường
mở, không phải chỉ 15.000 tỉ đồng, mà có thể lên tới
30.000 tỉ đồng/ngày. Tiền đưa ra nhanh và hút vào nhanh
sẽ giúp cải thiện mạnh hơn thanh khoản các ngân hàng.
Tuy nhiên việc ngân hàng giảm
hoặc ngưng cho khách hàng vay, tập trung kinh doanh trên thị
trường liên ngân hàng chẳng khác nào đóng thêm một van
tín dụng, đẩy doanh nghiệp vào chỗ khó khăn.
Doanh
nghiệp bắt buộc phải chọn hoặc không vay được, hoặc
vay với mức phí cao. Ở thời điểm cuối năm thì nhiều
công ty chọn phương án thà vay với chi phí cao còn hơn
không có tiền.
Mặt khác, việc nâng doanh số
giao dịch của thị trường mở cũng chỉ giải quyết
được thanh khoản cho các ngân hàng trước mắt, có tính
tạm thời, giật gấu vá vai. Để thanh khoản của tổ
chức tín dụng ổn định lâu dài, NHNN phải tháo gỡ cả
vấn đề kỳ hạn, như nâng kỳ hạn giao dịch trên thị
trường mở lên 1-2 tháng, thậm chí 3-6 tháng nếu cần,
chứ không phải duy nhất một kỳ hạn là bảy ngày, hoặc
tối đa là 14 ngày như hiện nay.
“Chìa khóa” nào mở cửa lãi
suất?
Điểm gút của lãi suất đang
nằm ở đâu? Trả lời câu hỏi này là lời giải cho
kênh cung ứng tiền. Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy
ban Giám sát tài chính quốc gia, phân tích: “Tiến độ
tăng trưởng cung tiền năm ngoái khoảng 27%, thấp hơn năm
2006 và cao hơn không nhiều so với các năm 2002-2003. Năm
2006 tốc độ tăng cung tiền trên 31%”.
Tăng trưởng tín dụng năm 2009,
theo NHNN, là 37,73%. Như vậy mức chênh lệch giữa tăng
trưởng cung tiền và tăng trưởng tín dụng xấp xỉ
10%.Bên cạnh đó, sự tăng trưởng của cung tiền năm
2009 dường như đã bị lấy bớt đi tác dụng đối với
nền kinh tế thông qua việc NHNN bán ra ngoại tệ, can
thiệp vào thị trường ngoại hối, hút bớt tiền đồng
về.
Số liệu của Ngân hàng Phát
triển châu Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho
biết dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã giảm từ 23
tỉ USD vào cuối năm 2008 xuống khoảng 17 tỉ USD vào
tháng 6/2009.
Khoảng 6 tỉ USD đã được NHNN bán ra và một
lượng tiền đồng tương đương, nếu tính theo tỷ giá
17.500 đồng/USD, 105.000 tỉ đồng đã được rút về.
Chưa kể sau ngày điều chỉnh tỷ giá mới đây
25/11/2009, NHNN tiếp tục bán ra ngoại tệ để ổn định
cung cầu.
Gần đây nhất, NHNN thống kê số
tiền gửi ngoại tệ mà các tập đoàn, tổng công ty nhà
nước phải bán cho ngân hàng là 1,9 tỉ USD. Nếu các
doanh nghiệp bán hết số ngoại tệ trên cho ngân hàng và
ngân hàng bán lại cho NHNN, thì số tiền đồng tương
đương đưa ra có thể là 34.000 tỉ đồng. Đây là một
khối lượng đáng kể cải thiện cung tiền đồng.
Thế nhưng cho đến giờ vẫn chưa
có số liệu chính thức các ngân hàng đã mua được bao
nhiêu ngoại tệ từ số 1,9 tỉ USD. Tập đoàn Dầu khí
cho biết đã bán cho ngân hàng vài trăm triệu USD, tập
đoàn Than và Khoáng sản bán 20 triệu USD. Những con số
đó quá nhỏ so với lượng họ phải bán.
Kiềm chế lạm phát ở mức một
con số là lý do chính buộc NHNN kiểm soát chặt tăng
trưởng cung tiền đồng. Nhưng sự kiểm soát cung tiền
và điều hành tỷ giá có vẻ như chưa ăn khớp và linh
hoạt với nhau. Về dài hạn, nếu nguồn cung tiền đồng
của các tổ chức tín dụng không tăng lên, thì việc cho
vay sẽ còn “ăn đong” và lãi suất khó mà không vượt
rào quy định.
“Chìa khóa” mở cửa lãi suất
đang nằm ở khâu tăng trưởng cung tiền. NHNN có sử dụng
chìa khóa đó không và sử dụng đến mức nào để đạt
mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5% năm nay? Nhìn từ khía
cạnh đó, việc phá trần lãi suất và thu phí cho vay của
ngân hàng đang trở thành kết quả của chính sách tiền
tệ!
Theo Hải Lý
TBKTSG