Các dự án này được cho là bị "xác định giá đất thấp gây thất thu cho ngân sách và tạo điều kiện cho một số nhà đầu tư chuyển nhượng thu lợi bất chính với số tiền lớn"!
PV: Thưa ông, tại kết luận số
160/TB-TTCP, Thanh tra Chính phủ (TTCP) cho rằng "khu đất chuyển nhượng
cho Công ty Phúc Thiên Long để xây dựng khu dịch vụ thương mại du lịch
đã được UBND TP Đà Nẵng xác định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất
(QSDĐ) năm 2007, qua 4 lần gia hạn nộp tiền, đến tháng 9/2009 Công ty
mới nộp tiền sử dụng đất nhưng TP không xác định lại giá, gây thất thu
120.172 triệu đồng". Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
Ông Văn Hữu Chiến: Trên cơ sở đề xuất của Hội đồng thẩm định giá đất TP, UBND TP Đà Nẵng đã phê duyệt giá khởi điểm đấu giá là 2,5 triệu đồng/m2.
Sau khi công khai đấu giá theo đúng quy định, hết thời hạn vẫn không có
tổ chức, cá nhân nào tham gia đấu giá, chỉ có Công ty Phúc Thiên Long
xin nhận QSDĐ. Do đó, việc UBND TP thống nhất chủ trương giao đất cho
công ty này là phù hợp với quy định tại Điểm d, Khoản 5, Điều 2 Nghị
định 17/2006/CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
181/2004/CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
UBND TP Đà Nẵng thống nhất phê duyệt giá
đất giao QSDĐ theo đúng đề xuất của Hội đồng thẩm định giá đất TP, với
đơn giá là 3,03 triệu đ/m2, cao hơn đơn giá phê duyệt để đấu giá. Việc phê duyệt đơn giá đất 3,03 triệu đ/m2 là đúng thẩm quyền của UBND TP và phù hợp với giá thị trường tại thời điểm đó.
PV: Nhưng tại sao sau 2 năm với 4 lần gia hạn, công ty này mới nộp tiền SDĐ mà UBND TP Đà Nẵng không xác định lại giá đất?
Ông Văn Hữu Chiến: Sau
khi ký hợp đồng chuyển QSDĐ cho Công ty Phúc Thiên Long thì tình hình
bất động sản cả nước cũng như TP Đà Nẵng giảm sút và đóng băng. Đồng
thời các ngân hàng đồng loạt không cho vay vốn để đầu tư vào lĩnh vực
bất động sản. Do đó vấn đề tài chính của các doanh nghiệp gặp nhiều khó
khăn.
Mặt khác, khu đất này có nguồn gốc là
đất quốc phòng nên quá trình làm thủ tục chuyển sang đất phát triển kinh
tế có kéo dài, đồng thời hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại khu vực này chưa
được đầu tư vì vướng đất quốc phòng, dẫn đến TP chưa thể bàn giao toàn
bộ mặt bằng dự án cho chủ đầu tư để triển khai dự án.
Từ tháng 12/2007 đến 9/2009 (từ thời
điểm quyết định giá đất đến thời điểm công ty nộp đủ tiền SDĐ), bảng giá
đất năm 2008 và 2009 ở TP Đà Nẵng không thay đổi. Thị trường bất động
sản giảm sút và đóng băng, lạm phát kéo dài. Bão số 6 cũng vừa đổ bộ vào
TP tàn phá nhiều nhà cửa, công trình nhất là ở khu vực ven biển. Cùng
lúc, sóng thần tàn phá nhiều khu vực ven biển Thái Lan và một số nước
càng gây nên tâm lý e ngại đầu tư vào khu vực ven biển Đà Nẵng. Vì vậy
giá đất khu vực ven biển thời gian này giảm sút.
Chưa kể khu đất này nằm gần sân bay Nước
Mặn, nhiều người e ngại còn tồn đọng chất thải dioxin trước đây trong
sân bay, ảnh hưởng đến sức khoẻ. Đó là lý do vì sao liền kề khu đất này
là vệt biệt thự dọc tường rào sân bay Nước Mặn đã giảm giá nhiều lần,
thường xuyên quảng bá trên báo chí nhưng nhiều năm liền không có khách
hàng liên hệ để nhận QSDĐ.
Nếu tính theo giá chuyển QSDĐ trên thị
trường tại thời điểm năm 2009 (áp dụng bảng giá đất năm 2009 do UBND TP
ban hành) thì đơn giá bình quân toàn khu đất này là 2.691.319 đ/m2. Như vậy đơn giá giao QSDĐ cho Công ty Phúc Thiên Long cao hơn đơn giá tính theo thị trường tại thời điểm đó là 338.681 đ/m2 (3.030.000 đ/m2 - 2.691.319 đ/m2).
Đơn giá này nằm trong khung giá đất mà Chính phủ quy định tại Nghị định
181/2004/NĐ-CP và cao hơn giá đất tối thiểu đối với giá đất sản xuất
kinh doanh phi nông nghiệp ở đô thị loại 1 lên đến 12 lần.
PV: Đối với dự án này, kết
luận số 160 của TTCP còn cho rằng "sau đó nhà đầu tư đã chuyển nhượng
ngay cho đối tác khác thu lợi 498.442.206 triệu đồng". Ý kiến của ông về
vấn đề này như thế nào?
Ông Văn Hữu Chiến: Theo
quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 188/NĐ-CP (ngày 16/11/2004) của
Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất thì
"giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường trong điều kiện bình
thường là số tiền VND tính trên một đơn vị diện tích đất được hình thành
từ kết quả của những giao dịch thực tế mang tính chất phổ biến
giữa người cần chuyển nhượng và người muốn được chuyển nhượng, không bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố như tăng giá do đầu cơ, do thay đổi quy hoạch,
chuyển nhượng trong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống".
UBND TP Đà Nẵng khẳng định đơn giá
chuyển nhượng QSDĐ của các cá nhân, tổ chức đối với khu đất này không
phải là giá thị trường trong điều kiện bình thường. Do lẽ, sau khi Công
ty Phúc Thiên Long được phép chuyển đổi tên sang ông Nguyễn Hữu Bình,
sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ,
ông Bình đã chuyển nhượng lại cho Công ty ATS do bà Nguyễn Thị Thoa làm
giám đốc. Bà Thoa và ông Bình là chị em ruột (có quan hệ huyết thống) nên giá chuyển QSDĐ của hai người này không phải là giá trị thực của khu đất.
Giao dịch này không mang tính phổ biến mà trên thực tế đã chứng minh cho thấy việc tăng giá đất chuyển nhượng QSDĐ của các cá nhân trên nhằm mục đích nâng khống
giá trị chuyển QSDĐ lên quá cao để được vay ngân hàng với số tiền lớn.
Đây chính là thực trạng dẫn đến nợ xấu trong ngân hàng như hiện nay.
Ngoài mục đích nâng giá đất ảo nêu trên thì việc chuyển nhượng QSDĐ giữa các cá nhân, tổ chức là quan hệ dân sự giữa các bên, được cơ quan Công chứng chứng thực hợp đồng, sang tên trước bạ theo quy định của pháp luật. Vấn đề này không thuộc trách nhiệm của UBND TP.
PV: Đối với khu đất phía
Nam cuối đường Phạm Văn Đồng, theo TTCP, năm 2006, UBND TP Đà Nẵng
chuyển nhượng cho ông Hoàng Hải và bà Trung Thị Lâm Ngọc với tổn giá trị
hợp đồng 84 tỉ đồng. Đến năm 2008, ông Hải và bà Ngọc không triển khai
thực hiện dự án mà uỷ quyền cho ông Phan Văn Anh Vũ chuyển nhượng cho
ông Phạm Đăng Quan với giá 581,526 tỉ đồng (thu chênh lệch 495,374 tỉ
đồng). Năm 2009, ông Quan lại tiếp tục chuyển nhượng cho Công ty cổ phần
đầu tư địa ốc Phương Trang với giá 585 tỉ đồng. Hiện khu đất vẫn bỏ
trống, chưa được đầu tư. Ông có ý kiến gì?
Ông Văn Hữu Chiến:
Chúng tôi xin nói rõ, ông Phan Văn Anh Vũ là người đứng ra chuyển nhượng
QSDĐ cho ông Hải, bà Ngọc theo hợp đồng uỷ quyền chứ không phải là
người nhận chuyển nhượng đất của ông Hải, bà Ngọc. Còn ông Phạm Đăng
Quan chính là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần đầu tư địa ốc ô tô Phương
Trang. Như vậy giữa công ty này với cá nhân ông Quan là một. Điều này
cho thấy đơn giá chuyển nhượng QSDĐ giữa tổ chức và cá nhân này không
phải là giá thị trường trong điều kiện bình thường.
Việc chuyển nhượng QSDĐ giữa các cá nhân, tổ chức nêu trên là quan hệ dân sự giữa các bên, được cơ quan Công chứng chứng thực hợp đồng, trước bạ sang tên theo quy định của pháp luật.
Vấn đề này không thuộc trách nhiệm của UBND TP. Tuy nhiên qua thực tế
thị trường bất động sản trên địa bàn TP đã xảy ra nhiều trường hợp các
tổ chức, cá nhân nâng khống giá trị chuyển QSDĐ lên quá cao nhằm mục
đích vay ngân hàng với số tiền lớn chứ giá trị thực trên thị trường thấp
hơn nhiều. Từ đó đã dẫn tới nợ xấu trong ngân hàng mà chúng tôi vừa đề
cập ở trên.
PV: Đối với các khu đất A2,
A3 đầu tuyến Sơn Trà - Điện Ngọc, TTCP cũng cho rằng việc chuyển nhượng
QSDĐ của các tổ chức, cá nhân tạo ra sự chênh lệch lớn. Ý kiến của ông
là gì?
Ông Văn Hữu Chiến: Đối
với khu đất A2, sau khi được UBND quận Sơn Trà cấp giấy chứng nhận QSDĐ,
bà Phạm Thị Đông chuyển nhượng QSDĐ cho bà Nguyễn Thị Xuân. Đây là quan
hệ dân sự và được cơ quan Công chứng chứng thực hợp đồng theo quy định.
Riêng với khu đất A3, UBND TP Đà Nẵng
khẳng định đơn giá chuyển nhượng QSDĐ của các cá nhân đối với khu đất
này không phải là giá thị trường trong điều kiện bình thường. Do lẽ, sau
khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với khu đất A3, bà Phạm Thị Đông
đã chuyển nhượng lại cho bà Trương Thị Chi và Lê Thuý Hương. Bà Đông với
hai người này có quan hệ bà con trong gia đình, làm ăn với nhau...
Sau khi được cấp giấy chứng nhận QSDĐ,
hai bà Trương Thị Chi và Lê Thuý Hương chuyển nhượng cho ông Trương Đình
Trung. Tiếp đó ông Trung chuyển nhượng cho Công ty cổ phần bất động sản
Phương Trang. Ông Trung chính là Phó Giám đốc Công ty này, giữa ông và
công ty có quan hệ, cùng chung quyền lợi nên giá chuyển QSDĐ đối với khu
đất này không phải là giá thị trường trong điều kiện bình thường. Giữa
ông Trung và công ty đã thoả thuận nâng khống giá trị khu đất nhằm vay
ngân hàng với số tiền lớn, chứ giá trị thực trên thị trường thấp hơn
nhiều. Ngoài ra, việc chuyển nhượng QSDĐ giữa các cá nhân, tổ chức là
quan hệ dân sự giữa các bên, được cơ quan Công chứng chứng thực hợp đồng
theo quy định của pháp luật nên không thuộc trách nhiệm của UBND TP.
PV: Theo TTCP thì khu đất
chuyển đổi mục đích SDĐ của Công ty Tân Cường Thành tính giá thấp hơn
giá TP quy định là 67.323.064 triệu đồng. Ông giải thích việc này thế
nào?
Ông Văn Hữu Chiến: Đối với khu đất này, UBND TP Đà Nẵng đã phê duyệt đơn giá đất sản xuất kinh doanh là 410.000 đ/m2.
Sau khi công ty đề nghị chuyển mục đích SDĐ sang đất ở thì Hội đồng
thẩm định giá TP đề xuất giá chuyển mục đích SDĐ của khu đất này là
175.800 đ/m2. UBND TP Đà Nẵng thống nhất với đề xuất nêu trên.
Theo đó, giá đất ở giao quyền SDĐ cho Công ty Tân Cường Thành là 585.800 đ/m2 (410.000 đ/m2 + 175.800 đ/m2)
là đúng thẩm quyền và phù hợp với giá thị trường tại thời điểm, trong
điều kiện công ty này phải tự bỏ kinh phí di dời cơ sở sản xuất theo
hiện trạng để có mặt bằng xây dựng khu dân cư theo chủ trương của UBND
TP tại công văn số 4865/VP-QLĐTh ngày 25/11/2010 (TP không bồi thường
thiệt hại nhà xưởng, chi phí di dời, giải phóng mặt bằng...). Như vậy
đơn giá này nằm trong khung giá đất mà Chính phủ quy định tại Nghị định
188/2004/NĐ-CP và cao hơn giá đất tối thiểu (đối với đất ở nông thôn,
loại xã đồng bằng) lên đến 58,6 lần (585.800 đ/m2/10.000 đ/m2).
PV: TTCP cho rằng, năm 2007, khi
chuyển nhượng khu đất A4, A5 khu đầu tuyến Sơn Trà - Điện Ngọc cho Công
ty cổ phần xây dựng thương mại Phú Mỹ xây chung cư, căn hộ cao cấp, văn
phòng cho thuê và khách sạn, UBND TP Đà Nẵng và Hội đồng thẩm định giá
đất TP không xác định theo giá đất ở mà giữ nguyên theo giá đất sản xuất
kinh doanh (SXKD, bằng 0,7 giá đất ở), gây thất thu cho ngân sách. Đến
năm 2010, công ty này chuyển nhượng lại cho Công ty cổ phần xây dựng
Phương Trang với số tiền hơn 285,6 tỉ đồng, chênh lệch so với giá của TP
xác định năm 2007 hơn 22,6 tỉ đồng". Ý kiến của ông về vấn đề này như
thế nào?
Ông Văn Hữu Chiến: Nhận
định của TTCP như vậy là không đúng. Bởi vì Hội đồng thẩm định giá đất
TP Đà Nẵng đề xuất mức giá khởi điểm để đấu giá đất theo mục đích SXKD
phi nông nghiệp là 2.570.000đ/m2 và được UBND TP thống nhất.
Sau khi đăng báo công khai đấu giá theo quy định, hết thời hạn vẫn không
có tổ chức, cá nhân nào tham gia đấu giá, chỉ có Công ty Phú Mỹ có đơn
xin nhận chuyển QSDĐ và được UBND TP Đà Nẵng thống nhất giao QSDĐ với
đơn giá SXKD phi nông nghiệp như nêu trên.
Sau khi nộp toàn bộ tiền SDĐ hai khu đất
này, Công ty Phú Mỹ được UBND TP Đà Nẵng cấp giấy chứng nhận QSDĐ số
AK280458 và AK280459. Theo giấy chứng nhận đã cấp cho Công ty Phú Mỹ thì
mục đích sử dụng các khu đất này là đất SXKD phi nông nghiệp và UBND TP
Đà Nẵng thu tiền SDĐ đối với công ty là đất SXKD phi nông nghiệp chứ
không phải là đất ở như ý kiến của TTCP.
PV: TTCP cũng có ý kiến rằng khu đất
29ha thuộc dự án sân golf Đa Phước giao cho Công ty 79 thấp hơn giá TP
quy định, làm lợi cho công ty này hơn 570 tỉ đồng. Ông giải thích vấn đề
này ra sao?
Ông Văn Hữu Chiến: Ý
kiến này của TTCP cũng không đúng. Bởi vì ngày 16/11/2006, Công ty TNHH
Daewon Cantavil và UBND TP Đà Nẵng ký Thoả thuận nguyên tắc đầu tư dự án
khu đô thị phức hợp sân golf Đa Phước, cụ thể trên cơ sở giá thu tiền
mặt nước được thống nhất là 300.000đ/m2 và đơn giá thu tiền thuê đất 0,1USD/m2/năm.
Trong thoả thuận nguyên tắc này có việc giao quyền SDĐ cho một Công ty
Việt Nam liên doanh với Công ty Daewon với diện tích 29ha, đơn giá
300.000đ/m2.
Trong dự án này, Nhà nước giao mặt nước cho chủ đầu tư, còn chủ đầu tư phải bỏ ra 100% chi phí để làm kè, san lấp mặt bằng, nên việc TP thu tiền SDĐ với giá 300.000đ/m2 là phù hợp với giá thị trường tại thời điểm đó. Chưa kể đơn giá 300.000đ/m2
mặt nước đi kèm với điều kiện nhà đầu tư phải bàn giao cho TP khoảng
25ha đã hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng (với chi phí phải bỏ ra khoảng 5 triệu
USD) để TP xây dựng khu vực công ích công cộng. Theo giá đất hiện hành
của TP thì giá trị của khu đất 25ha này là 988 tỉ đồng.
UBND TP Đà Nẵng khẳng định giá đất giao
cho Công ty Daewon là giá mặt nước. Đối với khu đất 29ha, ngoài đơn giá
giao mặt nước là 300.000đ/m2 thì giá trị thu được đối với 25ha nêu trên được phân bổ cho khu 29ha, theo đó tiền SDĐ mỗi m2 là 3.407.000đ (988 tỉ/29ha). Như vậy, việc thu tiền SDĐ thực tế cho mỗi m2 của khu đất 29ha là 3.707.000đ (3.407.000đ/m2 + 300.000đ/m2).
Đây là đơn giá tiền SDĐ mà TP được hưởng lợi với khu đất 29ha đã giao
cho Công ty Daewon với đối tác là doanh nghiệp Việt Nam. Thực tế TP thu
và hưởng lợi được 1.075 tỉ đồng, gồm 988 tỉ đồng là số tiền hưởng lợi từ
25ha và 87 tỉ đồng là tiền thu mặt nước của 29ha.
 |
| Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh nghe nhà đầu tư
Hàn Quốc trình bày dự án đổ đất lấn biển xây dựng khu đô thị phức hợp
sân golf Đa Phước - Ảnh: HC |
PV: Kết luận của Thanh tra Chính phủ
(TTCP) cho rằng việc UBND TP Đà Nẵng giảm 10% tiền sử dụng đất phải nộp
cho các hộ được bố trí đất tái định cư, các tổ chức, cá nhân được TP
giao đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất QSDĐ là không đúng đối tượng
và trái với quy định của Nghị định 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ. Ông có ý
kiến gì về kết luận này?
Ông Văn Hữu Chiến: Trong
khoảng thời gian từ cuối năm 2004 trở về trước, Đà Nẵng chủ trương giảm
10% tiền SDĐ khi nộp đủ tiền SDĐ trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký hợp
đồng là vận dụng theo khoản 2, Điều 14 Nghị định 38/2000/NĐ-CP
(23/8/2000) của Chính phủ về thu tiền SDĐ: "Người SDĐ nộp đủ tiền SDĐ một lần theo thông báo của cơ quan thuế thì được giảm 20% số tiền SDĐ phải nộp"; và vận dụng theo khoản 2, Điều 9 Nghị định 61/CP (ngày 5/7/1994) về mua bán và kinh doanh nhà ở: "... Nếu trả hết một lần ngay khi ký hợp đồng thì được giảm 10%...".
Năm 2003, để có cơ sở pháp lý triển khai
thực hiện các dự án đầu tư, việc thu hồi đất và tái định cư trên địa
bàn Đà Nẵng, UBND TP đã ban hành Quyết định 122/2003/QĐ-UBND
(24/7/2003) về bồi thường thiệt hại, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Trong đó tại khoản 2, Điều 32 quy định về miễn, giảm tiền SDĐ và cho nợ tiền SDĐ đã có quy định thực hiện giảm 10% tiền SDĐ cho các trường hợp nộp đủ tiền SDĐ trong vòng 30 ngày sau khi nhận đất tái định cư.
Năm 2005, sau khi Nghị định 38/NĐ-CP hết
hiệu lực thi hành, trước tình hình triển khai đồng loạt các dự án đầu
tư nên cần phải huy động số tiền SDĐ để bổ sung nguồn vốn chi cho đầu tư
phát triển, UBND TP ban hành Quyết định 9757/QĐ-UBND (19/12/2005) về
việc giảm 10% tiền SDĐ cho các tổ chức, cá nhân đầu tư dự án nộp đủ tiền SDĐ trong thời gian quy định nhằm khuyến khích các nhà đầu tư kịp thời nộp tiền SDĐ một lần vào ngân sách.
Đến năm 2009, thị trường bất động sản
trong nước tiếp tục suy giảm trong bối cảnh kinh tế thế giới khủng
hoảng, cùng với việc thắt chặt tín dụng nên việc huy động vốn để thực
hiện các dự án rất khó khăn. Vì vậy nguồn thu ngân sách từ tiền SDĐ bị
ảnh hưởng, trong khi đó nhu cầu về vốn đầu tư để chi cho công tác giải
phóng mặt bằng, chi cho đầu tư phát triển để xây dựng kết cấu hạ tầng đô
thị, an sinh xã hội rất lớn.
Để huy động vốn của các nhà đầu tư, đảm
bảo các nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trên địa bàn, UBND TP
Đà Nẵng ban hành Quyết định 6644/QĐ-UBND (28/8/2009) về việc động
viên khuyến khích đối với các chủ đầu tư sớm nộp đủ tiền SDĐ vào ngân
sách trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng được giảm 10% tiền SDĐ
phải nộp. Chủ trương này là một trong những vận dụng linh hoạt,
sáng tạo của TP để khuyến khích các nhà đầu tư kịp thời nộp tiền SDĐ.
Nhờ áp dụng biện pháp này, tiến độ thu tiền SDĐ hàng năm đều đạt và vượt
dự toán được giao.
PV: Điều mà dư luận quan tâm là việc giảm tiền SDĐ như vậy đem lại lợi ích gì cho sự phát triển KT-XH của Đà Nẵng, thưa ông?
Ông Văn Hữu Chiến: UBND
TP Đà Nẵng xem việc giảm 10% là hình thức hỗ trợ lãi vay cho các nhà
đầu tư khi chuyển QSDĐ. Mặt khác, việc giảm 10% tiền SDĐ sẽ huy động
nhanh nguồn kinh phí vào ngân sách để đầu tư phát triển thay vì ngân
sách TP phải đi vay với mức lãi suất bình quân thấp nhất là 12%/năm.
Điều này phù hợp với Quyết định 12/2006/QĐ-TTg (16/01/2006) của Thủ
tướng Chính phủ và Thông tư 34/2004/TT-BTC (19/4/2004) của Bộ Tài chính.
Đây là khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng 100%, và nguồn thu
này chỉ được dùng để chi đầu tư phát triển thay vì ngân sách TƯ phải hỗ
trợ một phần cho TP.
Việc huy động sớm nguồn thu tiền SDĐ vào
ngân sách ngoài việc giúp ngân sách hạn chế đi vay để chi đầu tư phát
triển như nêu trên thì còn tạo điều kiện để TP có nguồn lực đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng sớm hơn, hạn chế được ảnh hưởng của yếu tố trượt giá
làm tăng suất đầu tư theo thời gian mà ngân sách phải chi trả theo quy
định. Kết quả thu tiền SDĐ trong 10 năm qua (2002 - 2011) là 24.617,61
tỉ đồng để đưa vào cân đối chi xây dựng cơ bản, chiếm tỉ lệ 73,81% tổng
nguồn vốn chi xây dựng cơ bản (33.353,79 tỉ đồng).
Qua phân tích và đánh giá tình hình,
UBND TP Đà Nẵng khẳng định việc thực hiện chính sách này là một trong
những vận dụng linh hoạt, sáng tạo của TP, mang lại hiệu quả thiết thực.
Nguồn thu ngân sách tăng lên hàng năm, đồng thời hạn chế yếu tố trượt
giá làm tăng suất đầu tư, có lợi cho ngân sách khi đầu tư cho phát triển
KT-XH, đặc biệt là các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, an
sinh xã hội, quốc phòng - an ninh...
PV: Theo kiến nghị của TTCP, ngày
19/11/2012, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 1930/VPCP-V.I thông báo
ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công an "xác minh, làm
rõ dấu hiệu cố ý làm trái các quy định của pháp luật về đất đai" tại Đà
Nẵng. Lãnh đạo TP đã và sẽ có những động thái gì để đáp ứng sự chỉ đạo
này?
Ông Văn Hữu Chiến: Theo
chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản nêu trên, hiện nay UBND TP
Đà Nẵng đang làm việc với đoàn công tác của Bộ Công an. Đồng thời chúng
tôi cũng đã chủ động có văn bản số 475/UBND-NCPC (16/1/2013) đề nghị các
Bộ TN-MT, Tài chính, KH-ĐT sớm sắp xếp thời gian vào làm việc với TP để
xác minh, làm rõ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
PV: Xin cảm ơn ông.
Theo Hải Châu
Infonet