Câu chuyện nợ nần của các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước lại được nhắc nhiều thời gian gần đây. Theo bà đâu là nguyên
nhân chính của thực trạng này?- Nguyên nhân chủ yếu của những bê bối tại tập đoàn,
tổng công ty nằm ở việc khu vực Nhà nước đang tham gia vào quá nhiều
hoạt động, dự án khác nhau, ở nhiều lĩnh vực nhưng đều không hiệu quả.
Theo thống kê, doanh nghiệp Nhà nước bỏ 13 đồng vốn mới thu được một
đồng tăng trưởng, trong khi khối tư nhân chỉ cần nửa đồng. Con số nợ
218.000 tỷ của các tập đoàn, tổng công ty cũng từ đó mà ra và rất khó
giải quyết khi mà tỷ lệ nợ ở nhiều nơi đã cao gấp 10 lần vốn chủ sở hữu.
Trước đây khi mới hình thành tập đoàn, có nhiều ý kiến
cho là không cần thí điểm nhiều, chỉ dừng lại ở khoảng 2 đơn vị rồi
đánh giá tất cả các mặt xem mô hình như vậy có ổn hay không, tác dụng nó
mang lại ra sao, hiệu quả mang lại như thế nào… Nhưng việc thực hiện
vẫn ồ ạt, trong khi doanh nghiệp lại hoạt động không hiệu quả, nợ nần
nhiều nhiều như hiện nay.
Những khoản nợ đó ảnh hưởng thế nào đến nợ công của Việt Nam?
- Vừa rồi WB có thống kê nợ công của Việt Nam khoảng
52% GDP. Nhưng đó là họ chưa tính hết trái phiếu của các doanh nghiệp
Nhà nước phát hành. Ví dụ như Tổng công ty Lắp máy (Lilama) đang đứng
trước kỳ hạn (tháng 9) phải trả hơn 900 tỷ đồng cho khoảng 2.000 tỷ trái
phiếu phát hành cách đây mấy năm nhưng đang khó về nguồn trả nợ. Còn
của các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước khác thì chưa biết
là bao nhiêu, trách nhiệm phải trả như thế nào.
Nhìn ra thế giới thì Trung Quốc năm ngoái mới giật
mình khi nợ địa phương quá lớn. Ireland trước đây cũng vỡ nợ chủ yếu do
tiền vay của doanh nghiệp. Do vậy, nợ của các tập đoàn, tổng công ty cao
ở Việt Nam là đáng lo, chứ không chỉ căn cứ vào tỷ lệ nợ trên GDP mà
nói là an toàn.
Bà nghĩ sao khi các doanh nghiệp cho rằng họ phải thực hiện "nhiệm vụ chính trị" nên không thể làm ăn có lãi?
- Chính bởi sự “nhập nhèm” này mà quá trình tái cơ cấu
phải tách bạch nhiệm vụ của doanh nghiệp. Trách nhiệm chính trị mà họ
vẫn nói đến thực chất là nhiệm vụ xã hội về thực hiện chính sách. Nhưng
thực tế tôi cho rằng việc này không hao tiền tốn của như họ vẫn kêu. Ở
nước ta, tỷ lệ nghèo giảm liên tục. Hiện là 12%, so với hơn 20% trước
đây thì không thể nói là số tiền hỗ trợ (về giá điện, giá viễn thông,
giao thông…) cao hơn ngày xưa được. Vậy tại sao bây giờ vẫn cứ kêu là
phải hỗ trợ nhiều, đó là cái không sòng phẳng, không rõ ràng.
Lẽ ra thay vì để cho các doanh nghiệp “mang tiếng” là
làm chính sách, Nhà nước nên hỗ trợ thẳng cho người nghèo. Chẳng hạn như
việc hỗ trợ thẳng 30.000 đồng tiền điện một tháng cho các hộ nghèo như
giải pháp chống lạm phát năm ngoái. Hỗ trợ như thế thì không tốn bao
nhiêu tiền mà chức năng doanh nghiệp lại được tách bạch. Còn chuyện
doanh nghiệp kêu khó vì suy thoái kinh tế thì tôi cho rằng đấy là khó
khăn chung, mình khó thì người ta cũng khó. Không nên lấy đó làm lý do
để bao biện.
Vậy những mâu thuẫn này được giải quyết như thế nào trong đề án tái cơ cấu doanh nghiệp mà Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ?
- Tôi có chung quan điểm với một số đại biểu Quốc hội
khi cho rằng đề án này chưa được cụ thể. Ví dụ như khi nói về tái cơ
cấu, doanh nghiệp Nhà nước được chia làm 4 loại. Có loại cần giữ 100%,
có loại Nhà nước giữ đa số, bán bớt cổ phần hoặc bán hẳn. Nhưng không có
cái tên cụ thể nào, ngành nào trong số hơn 1.300 doanh nghiệp hiện tại
được chỉ ra. Tôi và các đại biểu đều kỳ vọng ở một bức tranh cụ thể hơn.
Nếu không có một chuẩn phân loại cụ thể, đến lúc thực
hiện, người ta có thể tùy nghi, bán đi vài đơn vị tượng trưng hoặc bán
cổ phần ở một số rất ít ở những doanh nghiệp không quan trọng. Còn những
doanh nghiệp mà thường gây ra nợ nần lớn hoặc lỗ lớn thì vẫn cứ duy
trì. 12 tập đoàn kinh tế hiện nay chẳng hạn, nơi nào cần giữ 100%, nơi
nào chưa cần thiết. Chẳng hạn như dệt may la một ngành hoàn toàn có thể
cạnh tranh bình thường. Doanh nghiệp tư nhân, nước ngoài tham gia rất
nhiều thì hà cớ gì còn phải giữ Tập đoàn Dệt may của Nhà nước.
Việc này không có ý nghĩa bao nhiêu, kể cả nói về công
ăn việc làm. Họ không tạo được nhiều việc làm hơn so với doanh nghiệp
tư nhân trong cùng lĩnh vực. Thế mà về hiệu quả đầu tư thì họ lại không
bằng, trong khi cạnh tranh bên ngoài thì các doanh nghiệp tư nhân cũng
xuất khẩu ngang ngửa. Vậy thì không có lý do để mà giữ doanh nghiệp Nhà
nước trong lĩnh vực đó nữa.
Những doanh nghiệp nào nên giữ lại chưa cổ phần hóa, thưa bà?
- Cần nhắc lại nguyên tắc là Nhà nước điều hành bằng
chính sách, chứ không nhất thiết phải lập ra các đơn vị để trực tiếp
kinh doanh. Bởi vậy, có rất nhiều lĩnh vực mà về lâu dài, Nhà nước không
cần nắm giữ. Ví dụ như điện chẳng hạn. Với Luật Điện lực đang dự kiến
sửa đổi thì tư tưởng thị trường hóa dần dần đã rõ thì việc duy trì một
tập đoàn là không cần thiết. Dầu khí cũng vậy khi mà Petro Việt Nam đã
chấp nhận sự tham gia của nhiều đối tác.
Như vậy EVN, PVN hay ngay cả Vinacomin có thể cổ phần
hóa được thì không có doanh nghiệp nào là cấm kỵ cả. Như vậy sẽ huy động
vốn tốt từ nền kinh tế, Chính phủ không phải bỏ tiền đồng thời cũng giữ
được cam kết khi gia nhập WTO. Ngoài vấn đề tài chính thì năng lực quản
trị của doanh nghiệp cũng sẽ được cải thiện. Khi đó, chắc chắn sẽ không
có những vụ việc như Vinashin, Vinalines…
Theo Tuấn Lân
VnExpress