Dòng sự kiện công ty mua bán nợ 100.000 tỷ đồngThứ nhất, là
tái cấu trúc tự nguyện, tức là công ty chủ động thực hiện các kế hoạc tái cấu
trúc để trả nợ ngân hàng và vượt qua khủng hoảng. Thứ hai, tái cấu trúc dựa
trên thương lượng giữa công ty và các chủ nợ mà không thông qua thủ tục phá sản
tại tòa án. Thứ ba, đệ đơn phá sản và thực hiện tái cấu trúc qua thủ tục giải
quyết phá sản tại tòa án. Thứ tư, tái cấu trúc thông qua các công ty quản lý
tài sản. Nội dung bài viết được tổng hợp từ bài viết của các chuyên gia thuộc
Ngân hàng Thế giới.
1. Tái cấu trúc tự nguyện
Tái cấu trúc tự nguyện là việc các công ty gặp khủng hoảng
chủ động thực hiện kế hoạch tái cấu trúc để trả nợ ngân hàng và phục hồi hoạt động
kinh doanh. Việc lên kế hoạch và triển khai thực hiện kế hoạch không có sự tham
gia của chủ nợ, tòa án hay công ty quản lý tài sản. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến
tái cấu trúc tự nguyện:
- Thứ nhất, do chính các chủ sở hữu nhận thấy sự cần thiết
tái cấu trúc nhằm trả bớt nợ ngân hàng, phục hồi hoạt động kinh doanh, duy trì
đà tăng trưởng và tạo ra khả năng sinh lời cao.
- Thứ hai, do không được tham gia vào chương trình tái cấu
trúc thông qua thương lượng được bảo trợ và hỗ trợ của Chính phủ. Ví dụ, trong
cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, tại Hàn Quốc, các chaebol có quy mô nhỏ
và gặp khó khăn ít hơn đã không được đưa vào chương trình thương lượng ngoài
tòa án được hỗ trợ của Chính phủ, mà phải tự thực hiện quá trình tái cấu trúc
sâu rộng bởi vì họ có ít khả năng tiếp cận với nguồn tài trợ mới.
- Thứ ba, thực hiện sáp nhập và hợp nhất nhằm gia tăng khả
năng cạnh tranh: Trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, số lượng các
thương vụ M&A đặc biệt là những thương vụ xuyên quốc gia, đã tăng mạnh
trong các quốc gia chịu ảnh hưởng của khủng hoảng. Tổng các thương vụ M&A
xuyên quốc gia được định nghĩa là mua lại trên 50% vốn cổ phần bởi các nhà đầu
tư nước ngoài, đã tăng từ mức 3 tỷ USD năm 1996 lên mức 22 tỷ USD năm 1999. Sự
gia tăng lớn nhất là ở Hàn Quốc, lên đến 13 tỷ USD trong các thương vụ M&A
năm 1999 và ở Thailand xấp xỉ 4 tỷ USD.
2. Tái cấu trúc công ty dựa trên thương lượng ngoài tòa án
Nhiều quốc gia đã thông qua các thỏa thuận giữa các chủ nợ
hoặc thông qua các quy định của pháp luật, thiết lập các quá trình thương lượng
cho việc bảo vệ và tái cấu trúc các công ty lớn gặp khó khăn. Khung chương
trình thương lượng được xây dựng dựa trên cách tiếp cận London đối với việc tái
tổ chức các công ty lần đầu tiên được đề xuất ở Anh Quốc trong những năm đầu thập
niên 1990. Cách tiếp cận London khuyến khích các chủ nợ dựa trên các hợp đồng
thương lượng để bám sát những nguyên tắc rõ ràng: tối thiểu hóa các khoản lỗ
cho các chủ nợ, tránh việc thanh lý các con nợ khi chúng vẫn có thể tồn tại, và
đưa ra những hỗ trợ tài chính tiếp theo cho những con nợ vẫn có khả năng tồn tại.
Các nước Đông Á là những quốc gia đầu tiên áp dụng những mô hình này trên diện
rộng, sau đó là Thổ Nhĩ Kỳ. Brazil và Cộng Hòa Séc không áp dụng mô hình này.
Sơ đồ 1: Cách tiếp cận của Hàn Quốc đối với tái cấu trúc nợ
theo cách tiếp cận London
Cách tiếp cận: Các nguyên tắc London tập trung vào tái cấu
trúc nợ ngoài tòa án
CRCC: Corporate Restructuring Coordination Committee: Ủy ban
Điều phối Tái cấu trúc Công ty
Sơ đồ2: Cách tiếp cận Istanbul đối với tái cấu trúc nợ
Tái cấu trúc tại Thổ Nhĩ Kỳ: Cách tiếp cận Istanbul
Cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu từ 02/2001 được xem
là cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc nhất ảnh hưởng bất lợi đến nền kinh tế Thổ Nhĩ
Kỳ. Cuộc khủng hoảng dẫn đến Chính phủ phải can thiệp vào 19 ngân hàng tư nhân
và tái cấu trúc phần lớn ngân hàng quốc doanh và gánh chịu một chi phí cao cho
nền kinh tế. Trong hoàn cảnh đó, Cách tiếp cận Istanbul đã được thông qua tại
Luật Ngân hàng 4743 của Thổ Nhĩ Kỳ. Chương trình thực thi cách tiếp cận này được
thực hiện theo trình tự:
- Thứ nhất, các chủ nợ phải thể hiện rằng họ sẵn lòng tiếp tục
theo đuổi một giải pháp thương lượng về những khó khăn tài chính của một công
ty thay vì phải sử dụng đến một quá trình chính thức tịch biên tài sản thế chấp
hoặc một thủ tục phá sản.
- Thứ hai, quá trình thương lượng ngoài tòa án được xử lý
theo từng trường hợp, đó là mỗi công ty lớn tham gia vào quá trình này được giải
quyết bởi một ủy ban chủ nợ riêng biệt. Ủy ban này được lãnh đạo bởi ngân hàng
chủ trì – mà họ nắm giữ tỷ lệ tín dụng lớn nhất hoặc được bổ nhiệm bởi các chủ
nợ khác nắm giữ 75% giá trị tín dụng. Trong khi thỏa thuận liên chủ nợ được ký
bởi các ngân hàng và các định chế tài chính phi ngân hàng, các chủ nợ khác như
các chủ nợ tín dụng thương mại có thể tham gia vào quá trình thực thi thông qua
ủy ban chủ nợ.
- Thứ ba, Ủy ban chủ nợ có tối đa 90 ngày để ra nghị quyết
và gửi bản chấp thuận việc thực thi tới côn ty con nợ. Nếu không có nghị quyết
và ít hơn 55% các chủ nợ đồng thuận với một kế hoạch thực thi được đề xuất, khi
đó trường hợp này sẽ không được tiếp tục xem xét.
- Thứ tư, nếu giá trị biểu quyết đồng thuận các chủ nợ nằm
giữa 55% - 75% các chủ nợ xét theo giá trị, chấp thuận, kế hoạch được đưa tới một
hội đồng phán quyết được trao thẩm quyền phê chuẩn.
- Thứ năm, hội nghị chủ nợ ủy thác một sự xem xét lại thử
nghiệm chi tiết độc lập khả năng tồn tại lâu dài của mỗi công ty gặp khó khăn,
sử dụng những thông tin toàn diện sẵn có bởi tất cả các bên liên quan. Các chủ
nợ đồng ý hỗ trợ một sự bế tắc trong thời kỳ xem xét lại và thương lượng. Nghĩa
là, mỗi chủ nợ đồng ý duy trì những điều kiện thuận lợi về tín dụng và không
chuyển tài sản thế chấp thành bất lợi của chủ nợ khác. Điều này duy trì sự tin
tưởng của người lao động, nhà cung cấp, các khách hàng bằng việc cho phép công
ty tiếp tục hoạt động. Ở cuối của quá trình thử nghiệm chi tiết, các chủ nợ phải
đưa ra ý kiến về khả năng tồn tại của công ty và quyết định có hay không tiếp tục
thực thi. Cho đến khi bản kế hoạch được đồng thuận, các chủ nợ bảo lưu các quyền
pháp lý của họ để theo đuổi con nợ thông qua tòa án trong trường hợp thỏa thuận
thực thi không đạt được.
Cách tiếp cận Istanbul chứa đựng các điều khoản cho phép các
công ty bổ sung khoản vay của họ trong trường hợp thâm hụt khả năng thanh toán
hoặc những nhu cầu duy trì cấp bách. Lượng tiền mới có thể được cung cấp dựa
trên cơ sở tỷ lệ bởi tất cả các chủ nợ hiện hữu, bởi các chủ nợ cụ thể dựa trên
cơ sở sắp xếp ưu tiên hoặc bằng việc trả lại các khoản tiền từ việc thanh lý
tài sản do những cân nhắc ưu tiên. Nếu các chủ nợ đồng thuận rằng công ty có khả
năng tồn tại trong dài hạn, họ sẽ xem xét một lịch trình chính thức – như kỳ hạn
trả lãi, tái vốn hóa các khoản lãi trong số tiền còn nợ, nới rộng kỳ hạn cho
vay, cho vay tiền mới, hoặc chuyển nợ thành vốn cổ phần. Những thay đổi tài
chính dài hạn này phụ thuộc vào việc thực thi một kế hoạch kinh doanh đồng thuận
mà có thể đòi hỏi việc tái cấu trúc công ty.
3. Tái cấu trúc thông qua thủ tục phá sản dưới sự giám sát của
tòa án
Điểm yếu
trong chế độ phá sản đã làm cho tái cấu trúc dưới sự giám sát của tòa án là một
lựa chọn không hấp dẫn đối với các chủ nợ trong hầu hết các quốc gia và nó ít
được sử dụng, ngoại trừ ở Hàn Quốc và trong một phạm vi nào đó là Malaysia. Đối
với nhiều quốc gia, hệ thống phá sản thường yếu và đóng một vai trò hạn chế
trong quá trình tái cấu trúc. Những điểm yếu này liên quan đến quyền hạn chế của
các chủ nợ, những quy tắc nghèo nàn cho việc kiểm soát các thủ tục vỡ nợ, bản
chất tự nhiên của hệ thống pháp lý, trong đó nhiều quốc gia trong lịch sử đã
thiên vị cho các con nợ. Trong nhiều quốc gia, sự thiên vị cho các con nợ còn bị
làm trầm trọng hơn bởi hiệu quả hạn chế của hệ thống tòa án. Việc thiếu một sự
răn đe đáng tin cậy về tái cấu trúc hoặc thanh lý tài sản thông qua các quy
trình phá sản không những đã ngăn cản tái cấu trúc thông qua tòa án mà còn cả
tái cấu trúc thông qua thương lượng, bởi vì các chủ nợ thiếu các phương tiện
gây sức ép lên con nợ đi đến cam kết tích cực.
Một số khiếm khuyết pháp lý trong hệ thống phá sản đã được sửa
đổi sau khủng hoảng tài chính Châu Á. Việc chế độ phá sản được cải thiện và việc
thiết lập các tòa án chuyên biệt đã dẫn đến một sự tăng lên trong việc sử dụng
phá sản để giải quyết kiệt quệ tài chính. Từ con số ban đầu thấp, số lượng các
vụ thu thập được sử dụng các thủ tục phá sản đã tăng mạnh từ giữa năm 1999 đến
giữa năm 2001 khoảng 30 lần ở Indonesia và khoảng 60 lần ở Thailand. Mặc dù có
những cải thiện đối với chế độ phá sản chính thức, nhưng những cải tiến này đã
không loại trừ được nhiều vấn đề thể chế của hệ thống tòa án ở một số quốc gia.
4. Tái
cấu trúc bởi các công ty quản lý tài sản
Chính phủ cũng là một nhà đầu tư lớn trong khu vực công ty,
và như vậy họ trở thành một đối tác quan trọng tham gia trực tiếp vào quá trình
tái cấu trúc. Bốn quốc giá chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á đã
thành lập các công ty quản lý tài sản quốc doanh (Asset Management Company –
AMC) nắm giữ tổng cộng khoảng 135 tỷ USD tài sản tại thời điểm quý 3/2001 hay
khoảng 59% tất cả các khoản nợ xấu (Nonperforming loan – NPL) trong các quốc
gia này. Quyền hạn của các AMC cho phép thanh lý các tài sản bán cho khu vực tư
nhân thông qua các phương tiện khác nhau, tối thiểu hóa vai trò của chính phủ
trong việc tái cấu trúc tại từng công ty.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc thanh lý tài sản diễn ra chậm
do nhiều nguyên nhân, bao gồm những khó khăn trong định giá tài sản, thị trường
để bán các tài sản thì nhỏ hẹp, sự lo ngại bán các tài sản quá rẻ mạt, và những
áp lực về chính trị và xã hội. Tiến độ bán tài sản đã được đẩy nhanh hơn ở
Malaysia khi Danaharta đã thanh lý xấp xỉ 83% NPLs tính đến thời điểm 9/2001. Tại
Hàn Quốc, KAMCO đã thanh lý được 53% tính đến 8/2001. Nhưng IBRA chỉ thanh lý
được một phần nhỏ của một khối lượng tài sản xấu lớn, đạt được thấp hơn 6% tính
đến 9/2001. Do đó, các AMC vẫn nắm giữ một tỷ lệ lớn các các khoản nợ xấu
(NPLs).
Tuấn Dương