TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Cơ chế giám sát DNNN: Còn nhiều lỗ hổng

22-11-2012 - 14:56 PM | Doanh nghiệp

Cơ chế giám sát DNNN: Còn nhiều lỗ hổng

Việc giám sát, đánh giá DNNN đang có rất nhiều vấn đề. Nguyên nhân là do Việt Nam chưa thay đổi tư duy quản lý DNNN trong thể chế kinh tế thị trường, còn tư duy của kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

Sáng 22/11, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), phối hợp cùng tổ chức SIDA (Thụy Điển) tổ chức hội thảo “Giám sát và đánh giá hoạt động của doanh nghiệp nhà nước”.

DNNN thất thoát, ai chịu trách nhiệm?

Theo Báo cáo “giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN- thực trạng và kiến nghị đổi mới” của CIEM chỉ rõ: Các DNNN vẫn đang có vai trò lớn trong nền kinh tế Việt Nam, đóng góp trên 30% GDP. Theo số liệu của MPI (2011), tổng vốn chủ sở hữu nhà nước tại các DNNN trên 700.000 tỷ đồng, chủ yếu tập trung ở các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.

Tổng tài sản đến 31/12/2010 của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đạt gần 2 triệu tỷ đồng. Còn theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2011), tính chung cho cả khu vực DNNN (gồm cả doanh nghiệp có trên 50% vốn điều lệ thuộc sở hữu nhà nước), thì tổng tài sản đạt khoảng 3,1 triệu tỷ đồng, chiếm trên 40% tổng tài sản của toàn bộ các doanh nghiệp và lớn hơn tổng GDP hằng năm của Việt Nam.

Nhận định về hiệu quả hoạt động DNNN, ông Phạm Đức Trung, Phó Trưởng ban Ban Cải cách và Phát triển doanh nghiệp (CIEM), hiệu quả thực sự của việc sử dụng nguồn lực này là vấn đề chưa có câu trả lời chính xác và thống nhất. Ngay cả những số liệu được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố chính thức cũng chỉ là số liệu báo cáo chưa đầy đủ, chưa có kiểm chứng đảm bảo tính xác thực.

Dẫn chứng cho nhận định này, ông Trung cho biết, ngay trong năm 2009-2010, Tập đoàn Vinashin trong tình trạng “trước bờ vực phá sản”, nợ phải trả lên tới khoảng 86.000 tỷ đồng, nợ đến hạn phải trả trên 14.000 tỷ đồng, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu gấp 11 lần, khó có khả năng tự cân đối dòng tiền, sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, nhiều dự án đầu tư dở dang, không hiệu quả, 5000 công nhân bị mất việc làm.

Dù vậy, ông Trung khẳng định, từ đó đến nay vẫn còn tranh luận về giá trị thực của tài sản, vốn nhà nước, các khoản nợ, mức độ thua lỗ của Tập đoàn này…

Năm 2011, tình trạng tương tự diễn ra đối với Tổng công ty Hàng hải Vinalines và một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước khác, cho dù với phạm vi và quy mô nhỏ hơn…

Đặc biệt, trong 4-5 năm qua, ở Việt Nam đã xuất hiện tình trạng các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đầu tư thành lập các công ty con, công ty cháu một cách tràn lan để kinh doanh trong những lĩnh vực rủi ro như: chứng khoán, bất động sản, tài chính. Tuy nhiên, các cơ quan giám sát đã không nắm được thông tin và không kiểm soát được tình trạng này.

Điều đáng nói là là khi DNNN đổ vỡ, hoặc thất thoát, trách nhiệm lại không biết quy cho ai.

Nguyên nhân: thiếu sự đồng bộ trong giám sát

TS. Trần Tiến Cường, nguyên Trưởng ban cải cách doanh nghiệp- CIEM, cho rằng, nguyên nhân hàng đầu của những thất thoát, lãng phí của DNNN là do cơ chế giám sát của Nhà nước.

Ngay trong Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng đã nhận định: “Một số doanh nghiệp vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý vốn đầu tư, làm thất thoát tài sản của Nhà nước nhưng chậm được phát hiện, ngăn chặn, xử lý. Hoạt động giám sát chưa có tác dụng cảnh báo và ngăn ngừa việc sử dụng yếu kém hiệu quả vốn và tài sản nhà nước đầu tư. Cơ chế giám sát việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ và bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhà nước còn thiếu đồng bộ”.

Còn ông Trung thì cho rằng, cơ chế giám sát, đánh giá DNNN ở Việt Nam hiện nay (cả về quy định pháp luật và tổ chức thực hiện) chưa đạt mục tiêu.

Đơn cử, khi toàn bộ DNNN đã chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp từ 1/7/2010 thì Luật DNNN không còn đối tượng điều chỉnh. Thậm chí, có ý kiến cho rằng Luật DNNN và hệ thống các văn bản hướng dẫn đã hết hiệu lực, trong đó có các văn bản về giám sát, đánh giá hoạt động của DNNN. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều văn bản trong hệ thống pháp luật đó vẫn tiếp tục được áp dụng khi chưa có các văn bản thay thế trong điều kiện DNNN đã hoạt động dưới các hình thức công ty của Luật Doanh nghiệp.

Vì thế, “tính đồng bộ của hệ thống các văn bản về giám sát và đánh giá DNNN bị phá vỡ”.

Đặc biệt một lý do được chỉ ra do phân cấp nên không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm về giải trình.

“Trong các văn bản pháp quy không có quy định nào quy định rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm chính”, TS. Cường chỉ ra.

Hơn nữa, năng lực giám sát và đánh giá của cơ quan giám sát còn yếu. Việc chưa quy định rõ quy trình, thời hạn, thủ tục, phương pháp, công cụ và trách nhiệm thực hiện giám sát (định kỳ, đột xuất) dẫn đến tính trạng lúng túng trong ực hiện, nếu thực hiện cũng thiếu chuẩn mực, không hiệu quả, mang tính hình thức.

Còn TS. Nguyễn Kim Toàn (nguyên Vụ trưởng Vụ Đổi mới doanh nghiệp-Văn phòng Chính phủ) cho biết, quy định pháp luật về công bố thông tin chưa đáp ứng yêu cầu cải thiện quản trị DNNN, còn thiếu đồng bộ giữa nghĩa vụ với xử lý vi phạm. Cơ chế thông tin chủ yếu là nội bộ, hoặc chế độ báo cáo cho chủ sở hữu ảnh hưởng không tốt đến giám sát từ bên ngoài.

Cụ thể, rất nhiều văn bản, báo cáo của DNNN chỉ có các cơ quan bộ, ngành có liên quan mới biết, chứ người ngoài rất khó tiếp cận.

Đồng ý với quan điểm của ông Trung, TS. Nguyễn Minh Phong cho biết, việc đảm bảo tính trung thực trong báo cáo thanh kiểm tra cũng cần được đề cao.

“13 đoàn vào Vinashin mà không phát hiện ra sai phạm. Do đó, cần có phân nhiệm, quy trách nhiệm cho các bên liên quan. Chất lượng công bố thông tin cũng cần được đưa ra và quy trách nhiệm”, TS. Phong nhấn mạnh.

Vậy giờ phải làm sao?

Thực tế, Việt Nam đã có một hệ thống các quy định về giám sát đối với DNNN. Việt Nam cũng có một hệ thống đồ sộ các cơ quan và bộ máy nhà nước thực hiện giám sát DNNN. Tuy nhiên, những văn bản này chưa phát huy được tác dụng như mong muốn.

TS. Nguyễn Kim Toàn đánh giá, các quy định về giám sát, đánh giá DNNN khá đầy đủ, nhưng ý thức tự báo cáo, tự đánh giá nhận xét của các DNNN còn chưa nghiêm túc….

Do đó, “các văn bản pháp luật đó nhiều khi chỉ tồn tại trên danh nghĩa, hiệu lực thực tiễn không cao”, TS. Toàn khẳng định.

Nhấn mạnh vai trò của chủ thể quản lý đối với DNNN, TS Trần Tiến Cường cho rằng: Chưa thay đổi tư duy quản lý DNNN trong thể chế kinh tế thị trường. Vẫn tư duy theo kiểu cũ của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây

Cụ thể, cơ chế hiện nay vẫn nặng về quản lý theo kiểu quy định nghĩa vụ đối với DNNN và quyền đối với cơ quan nhà nước; nhẹ về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, đặc biệt là trách nhiệm của Nhà nước với tư cách nhà đầu tư (mà không phải là quản lý hành chính nhà nước), ngoài những quy định cần thiết, quan trọng nhưng ở mức tối thiểu thì cần tăng cường giám sát- đánh giá-phát hiện-điểu chỉnh-xử lý với chế tài nghiêm.

Cho nên thực tế, theo ông Cường, mỗi khi có vấn đề phát sinh mới thanh tra, kiểm tra, giám sát… đó là cái vòng luẩn quẩn trong công tác quản lý, giám sát DNNN. Cần phải thay đổi tư duy quản lý về công tác quản lý và giám sát DNNN, có như vậy sẽ tiến tới có được hệ thống cơ sở pháp lý về giám sát, đánh giá DNNN phù hợp, hiệu quả hơn.

Theo ông Cường, việc cần quan tâm và có tính cấp bách lúc này là không nên kéo dài tình trạng “nợ đọng” giải pháp giải quyết tình trạng kém hiệu lực, hiệu quả, khó phối hợp do nhiều đầu mối, không rõ trách nhiệm trong quản lý, giám sát đối với DNNN, đặc biệt đối với các Tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước.

“Thay vì vẫn tổ chức giám sát tản mạn và chỉ khác là giao quyền và trách nhiệm nhiều hơn về cho các bộ quản lý ngành, cần có quyết tâm chính trị để tập trung đầu mối, thành lập tổ chức chuyên ngành và chuyên nghiệp để giám sát các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn, quan trọng”, ông Cường nhấn mạnh.

Chính vì thế, PGS, TS. Lê Xuân Bá nhấn mạnh: Kiểm soát không đi vào thực chât vấn đề, có thể do năng lực, nhưng cũng có thể do chủ ý. Vì thế, phải làm thực chất với những giải pháp thực chất chứ không thể “mơ màng” nữa!

Trí An

thanhhuong

Theo Trí thức trẻ

Trở lên trên