TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Giấy phép “con” lại... bùng phát

31-08-2008 - 07:47 AM | Doanh nghiệp

Giấy phép “con” lại... bùng phát

Số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kèm theo đó - các loại giấy phép “con” đang có dấu hiệu bùng phát trở lại.

Ông Nguyễn Đình Cung, Thư ký Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư (gọi tắt là Tổ Công tác) đã cảnh báo như vậy trong một cuộc tọa đàm được tổ chức tuần qua.

 

Ông Cung cho biết nếu như năm 1999, Chính phủ chỉ quy định 10 loại ngành nghề kinh doanh bị cấm, 5 loại hạn chế và 14 loại kinh doanh có điều kiện (theo Nghị định 11/2005/NĐ-CP) thì đến năm 2006, các con số này đã tăng lên lần lượt thành 23, 8 và 92 (theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP). Trên thực tế con số còn lớn hơn rất nhiều.

 

Chỉ riêng ngành nghề kinh doanh có điều kiện, Tổ Công tác đã rà soát được tới gần 400 loại, hầu hết tập trung trong các lĩnh vực thương mại - dịch vụ, tiếp theo là sản xuất, chế biến, khai khoáng...

 

Cùng với sự gia tăng nói trên, các loại giấy phép “con” sau một thời gian được dọn dẹp lại tiếp tục xuất hiện dưới nhiều hình thức. Đến nay, Tổ Công tác cũng đã thống kê được hơn 300 giấy phép “con”.

 

Rối rắm và thiếu thân thiện

 

Nhận xét đầu tiên là những ngành nghề có điều kiện và điều kiện kinh doanh được quy định rất phân tán bởi hàng trăm văn bản pháp luật và dưới vô số lăng kính khác nhau đã tạo nên một “mê hồn trận” cho người thực thi, áp dụng.

 

Ví dụ, Luật Doanh nghiệp thì phân thành ngành nghề cấm, có điều kiện và tự do kinh doanh. Trong khi đó, Luật Thương mại lại chia ra hàng hóa, dịch vụ cấm, hạn chế và kinh doanh có điều kiện. Luật Đầu tư thì quy định về lĩnh vực cấm, có điều kiện và những lĩnh vực đầu tư còn lại. Cam kết của Việt Nam với WTO thì phân ngành dịch vụ thành không được, hạn chế hoặc không hạn chế...

 

Thống kê (một cách tương đối) của Tổ Công tác cho thấy có tới khoảng 450 văn bản quy định về vấn đề này. Đáng lo ngại không kém là mặc dù pháp luật cấm nhưng hầu như bộ, ngành nào cũng thi nhau đặt ngành nghề có điều kiện hoặc điều kiện kinh doanh.

 

Theo ông Cung, nếu tính sít sao có thể có khoảng hai phần ba trong tổng số ngành nghề kinh doanh có điều kiện hiện nay không đảm bảo tính hợp pháp do được quy định trái với thẩm quyền.

 

Rất nhiều trường hợp luật, pháp lệnh không quy định hoặc quy định đơn giản nhưng nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ hoặc thông tư của bộ, ngành lại hướng dẫn thành ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo hướng khắt khe hơn, thiếu tính “thân thiện” hơn. Ví dụ, đối với đại lý dịch vụ chuyển phát thư, pháp lệnh chỉ quy định hợp đồng đại lý phải lập thành văn bản; sau đó nghị định hướng dẫn quy định phải đăng ký.

 

Thế nhưng, thông tư lại biến việc đăng ký thành việc “nộp hồ sơ, thẩm tra hồ sơ và cấp giấy xác nhận đăng ký hợp đồng”. Hoặc với hoạt động in xuất bản phẩm, luật chỉ yêu cầu “có thiết bị để in xuất bản phẩm”. Nghị định cụ thể hóa yêu cầu này bằng quy định “phải có dây chuyền thiết bị in và gia công sau in”. Thông tư tiếp tục bằng việc yêu cầu cơ sở in phải có đủ các thiết bị in và gia công sau in, bao gồm: máy in, máy xén, máy gấp và máy đóng sách (khâu thép liên hợp hoặc vào bìa)...

 

Hầu hết các điều kiện kinh doanh đặt ra đều không có mục tiêu rõ ràng hoặc chỉ nêu một cách chung chung “nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước...”... Vì vậy, nhiều quy định được ban hành hết sức tùy tiện, chủ quan.

 

Chẳng hạn, để tiến hành hoạt động dịch vụ giới thiệu việc làm doanh nghiệp phải tuân thủ một loạt điều kiện như: có địa điểm và trụ sở ổn định, đặt ở nơi thuận tiện, đủ diện tích cho việc giao dịch; có ít nhất năm cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên, thuộc các chuyên ngành kinh tế, pháp luật, ngoại ngữ, có lý lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt, không tiền án...

 

Vậy, thế nào là trụ sở “ổn định”, “thuận tiện” và “đủ diện tích”? Thế nào là lý lịch “rõ ràng”, đạo đức “tốt”? Tại sao phải có năm nhân viên, trình độ ít nhất là cao đẳng? Tại sao phải tốt nghiệp ngành luật, ngoại ngữ, kinh tế mà không ngành khác? Chưa nói việc cấm một người có tiền án, tiền sự kinh doanh đã là trái pháp luật.

 

Tương tự, để quản lý kinh doanh taxi Bộ Giao thông Vận tải đã đặt ra một lô điều kiện mà, theo ông Cung, giống một “bộ quy tắc ứng xử” hơn là điều kiện cần và đủ để kinh doanh một ngành nghề có điều kiện. Tài xế taxi ngoài việc phải có lý lịch rõ ràng, hợp đồng lao động, sức khỏe, còn phải có thái độ ứng xử hòa nhã, lịch sự đối với hành khách đi xe; phải bật đồng hồ tính tiền trước khi xe lăn, phải bật đèn báo hiệu chờ khách, phải hướng dẫn cho khách đi xe và trợ giúp người tàn tật, người già, trẻ em và phụ nữ có thai; phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật về giao thông đường bộ, phải mặc đồng phục, đeo biển tên theo quy định... (!).

 

Liệu có dẹp được?

 

Việc gia tăng các điều kiện kinh doanh trong một hệ thống pháp luật rối rắm, thiếu rõ ràng vô hình trung đang dựng thêm những rào cản kinh doanh mới. Khảo sát của Tổ Công tác cho thấy để thực hiện một dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, doanh nghiệp phải nộp tới 60 loại giấy tờ khác nhau, qua 300 thủ tục và trung bình phải mất trên 400 ngày mới xong.

 

Có trường hợp như tại TPHCM có doanh nghiệp đã mất đứt hơn sáu tháng trời mà vẫn chưa xong mỗi thủ tục xin huyện đồng ý địa điểm đầu tư. Với hơn 100 tỉ đồng tiền mua mặt bằng nếu tính theo lãi suất ngân hàng thì trong thời gian trên nhà đầu tư này đã thiệt hại gần 10 tỉ đồng. Chưa nói hàng loạt chi phí khác, kể cả chi phí do nhũng nhiễu của cán bộ, công chức thực thi.

 

Tình trạng giấy phép “con” ai cũng biết đã trở thành vấn nạn nhức nhối. Tuy nhiên, cuộc chiến với vấn nạn này xem ra vẫn còn khá gian nan. Cách đây hai năm, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương từng đề xuất thiết lập một hội đồng quốc gia có sự tham gia của đại diện dân chúng và chịu trách nhiệm giám sát quá trình ban hành, thực hiện các quy định về giấy phép kinh doanh. Tiếc rằng đề xuất bị một số bộ, ngành phản đối nên đã không được chấp nhận.

 

Lần này, Tổ Công tác đưa ra phương án “mềm” hơn với kiến nghị bãi bỏ những quy định được ban hành không hợp pháp, đồng thời sửa đổi và đưa tất cả các ngành nghề cấm, kinh doanh có điều kiện vào một nghị định thay vì nhiều văn bản như hiện nay.

 

Đề xuất của Tổ Công tác dựa trên Nghị định 139 của Chính phủ, theo đó đến ngày 1-9 tới đây tất cả những quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh được ban hành trái thẩm quyền (không phải do luật của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành) thì đều không còn hiệu lực. “Như vậy, sẽ có hàng loạt ngành nghề có điều kiện và điều kiện kinh doanh phải bị bãi bỏ nhưng quá trình thực hiện có thể sẽ còn rất khó khăn” - một thành viên Tổ Công tác nhận định.

 

Theo Nguyên Tấn

Thời báo kinh tế Sài Gòn

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM