TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp SME: Chủ trương gần, hiện thực xa

16-05-2010 - 15:35 PM | Doanh nghiệp

Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp SME: Chủ trương gần, hiện thực xa

Để chủ trương đúng có thể đi vào thực tế, góp phần gỡ khó cho doanh nghiệp SME thì hoàn toàn không dễ.

Cuối tuần qua, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 22 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), coi đây như một bước cụ thể hóa thông điệp khuyến khích, trợ giúp cho khối này phát triển.

Hàng loạt yêu cầu hướng dẫn xây dựng kế hoạch, chương trình hỗ trợ thực hiện được Chính phủ chỉ đạo xuống các bộ, ngành ở thời điểm được xem là thích hợp: kết thúc giai đoạn năm năm thực hiện kế hoạch phát triển doanh nghiệp SME (2006-2010), nghiên cứu đề xuất xây dựng kế hoạch phát triển khối doanh nghiệp này cho năm năm tới (2011-2015).

Yêu cầu hàng đầu của Chính phủ cho Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành liên quan là tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và huy động các nguồn lực hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp SME.

Hình thức là tiếp tục thực hiện các biện pháp điều chỉnh chính sách tiền tệ để kiểm soát hoạt động tín dụng theo hướng tập trung phục vụ vốn cho các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, nông thôn. Hay nói đơn giản là hạ lãi suất và tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho họ.

Cụ thể hơn, Chính phủ yêu cầu trong năm nay, Bộ Tài chính phải tổng kết, đánh giá toàn diện việc hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp SME tại các địa phương, kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng cho các khối doanh nghiệp này ở Ngân hàng Phát triển.

Sau đó, nghiên cứu trình Chính phủ nghị định sửa đổi, bổ sung về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, ưu tiên cho đối tượng doanh nghiệp SME (cũng gắn với xuất khẩu, phát triển nông nghiệp, nông thôn).

Nhưng để chủ trương đúng có thể đi vào thực tế, góp phần gỡ khó cho doanh nghiệp SME thì hoàn toàn không dễ. Bởi không phải chỉ năm năm gần đây mà từ trước tới nay khối doanh nghiệp SME luôn là đối tượng khó tiếp cận nguồn vốn các ngân hàng, nhất là khối ngân hàng quốc doanh, ngân hàng thương mại nhà nước so với khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Để vay được vốn ở bất cứ ngân hàng nào, doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn bị ràng buộc bởi điều kiện tài sản đảm bảo và thế chấp, thay vì có những “bà đỡ” lớn là các bộ, ngành như khối DNNN. Với tài sản và các lợi thế vốn luôn thua xa các DNNN, doanh nghiệp SME phần lớn nhận được nguồn vốn vay ít và lãi suất cao hơn.

Các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương hầu như cũng tê liệt trong việc trợ giúp vốn cho đối tượng phục vụ của mình. Kể cả khi Chính phủ thực hiện gói kích cầu kinh tế năm 2009, cộng đồng doanh nghiệp SME cũng không thể tiếp cận giá trị nguồn vốn lớn như khối DNNN, cho dù là số lượng DNNN ít hơn hẳn.

Điều đó có nghĩa là tuy không phải bây giờ Chính phủ mới có chủ trương tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, nhưng nếu chỉ dừng ở chủ trương mà các bước đi cụ thể ở các bộ, ngành không rõ, thì còn lâu khối doanh nghiệp nhỏ và vừa mới có thể tiếp cận nguồn tín dụng, chưa nói đến các khó khăn khác cũng cần tháo gỡ về mặt bằng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh...

Tương tự như vậy, việc hiện thực hóa các nội dung trong chương trình, sản phẩm cơ khí trọng điểm đã có từ một năm nay cũng chưa đi đến đâu. Và trước đó nhiều năm, hàng loạt các chương trình, đề án, quy hoạch khác về phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm có sự hỗ trợ của Nhà nước hầu như cũng không được thực hiện vì thiếu tính khả thi.

Tại một văn bản kết luận của Chính phủ đầu tháng 5 sau cuộc họp với Bộ Công Thương, Chính phủ đã thừa nhận rằng dù đã cho phép 8 dự án sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm và sản phẩm cơ khí trọng điểm được sự hỗ trợ của Nhà nước với danh mục dự án thực hiện từ năm 2009-2015 nhưng đến nay vẫn chưa giải ngân được dự án nào. Các phần việc có liên quan như nghiên cứu, đánh giá, phân tích thị trường để hướng dẫn các doanh nghiệp đầu tư chiều sâu, đầu tư vào những sản phẩm cơ khí có hàm lượng chất xám cao để dần thay thế nhập khẩu đã không được thực hiện.

Do vậy, chủ trương thì có và danh mục bố trí vốn Nhà nước cũng được thông qua song mọi chuyện vẫn nằm trên giấy. Do vậy, Việt Nam mỗi năm vẫn phải nhập 18 tỉ đô la Mỹ thiết bị cơ khí, máy móc cho các dự án của các ngành công nghiệp trong nước là điều dễ hiểu. Con số này, nếu chỉ giảm đi được vài phần trăm nhờ hàng cơ khí sản xuất trong nước cũng đã tạo ra được một khối lượng công ăn việc làm lớn cho người lao động, cho doanh nghiệp, làm giảm áp lực ngoại tệ và nhập siêu cho nền kinh tế.

Một đề án khác mà Chính phủ chỉ đạo thực hiện cũng đã nằm “tắc” ở bộ mấy năm nay, dù cả bộ và Chính phủ đều nhận thấy đây là một hướng đi đúng. Đó là đề án thí điểm “Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu” để hỗ trợ doanh nghiệp trong việc mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng và hạn chế rủi ro trong xuất khẩu.

Việt Nam là quốc gia xuất khẩu nhiều song tính cạnh tranh chưa cao nên vai trò hỗ trợ hợp lý từ Nhà nước đến nay vẫn còn cần thiết. Ví như việc Chính phủ chỉ đạo các kênh dẫn vốn thu mua lúa gạo cho nông dân để tránh rớt giá xuất khẩu. Nhưng chủ trương bảo hiểm tín dụng xuất khẩu do tính toán phụ thuộc vào kênh dẫn vốn của Ngân hàng Phát triển nên mấy năm nay không thể thực hiện được.

Vì nguồn vốn của ngân hàng này lại phụ thuộc vào nguồn cấp của Nhà nước, lại được chia nhỏ qua nhiều vai trò hỗ trợ tín dụng cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước... nên khả năng quay vòng vốn rất chậm và kém, không thể đảm đương thêm “gánh” hỗ trợ tín dụng xuất khẩu, ngoại trừ trường hợp được Chính phủ bổ sung thêm vốn chỉ để thực hiện riêng việc này.

Các ví dụ trên đây cho thấy rằng, từ chủ trương đến hiện thực là một khoảng cách rất xa. Kể cả khi chủ trương đúng như hỗ trợ doanh nghiệp SME hay hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu mà không có bước đi rõ ràng và nhiều phương án khác nhau thì sẽ bị dừng lại ngay từ trên giấy.

Hoặc chủ trương hỗ trợ phát triển dự án cơ khí trọng điểm dù có danh mục cụ thể nhưng không thể giải ngân do thiếu quyết tâm và tính chuyên nghiệp ngay từ những bước đi đầu tiên.

Để kéo gần chủ trương và hiện thực, phải có lộ trình và kế hoạch thực hiện cụ thể, thậm chí mạnh dạn dừng lại hoặc chuyển hướng cho phù hợp, tránh tình trạng: chủ trương xuôi và hiện thực ngược, làm giảm hiệu lực thực thi chính sách của nhà nước.

Theo Ngọc Lan
TBKTSG

khanhhoa