Ý tưởng lập công ty mua bán nợ xấu với quy mô 100.000
tỉ đồng của ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang được bàn luận sôi nổi trên
các phương tiện thông tin đại chúng.Việc hình thành công ty mua bán nợ
xấu cấp quốc gia đã được tiến hành tại nhiều quốc gia trong giai đoạn
khủng khoảng tài chính châu Á 1997 – 1998 như Hàn Quốc, Thái Lan,
Indonesia, Malaysia, v.v.
Để có một hình dung nhất định về việc một công ty mua
bán nợ xấu tầm quốc gia vận hành trong giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế
hoạt động như thế nào, tốt nhất là tham khảo một trường hợp thành công
điển hình. KAMCO của Hàn Quốc là một trường hợp như vậy.
Cơ chế hình thành KAMCO
Trước bối cánh nợ xấu tăng mạnh từ cuối năm 1997, Chính
phủ Hàn Quốc đã thực hiện những giải pháp mạnh mẽ để giải quyết nợ xấu
của hệ thống tín dụng nhằm giúp nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng.
Đầu tiên, ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đánh giá lại nợ
xấu của toàn bộ hệ thống. Trước khủng hoảng, chỉ các khoản nợ quá hạn
trên sáu tháng mới bị xếp vào nhóm nợ xấu. Tuy nhiên, để có thể đánh giá
đúng tình hình và đề ra các giải pháp hiệu quả, ngân hàng Trung ương
Hàn Quốc đã chấp nhận chuẩn mực thế giới và đưa các khoản nợ quá hạn
trên ba tháng vào nhóm nợ xấu. Kết quả là nợ xấu của toàn bộ hệ thống
tài chính Hàn Quốc vào tháng 3.1998 lên tới 118 ngàn tỉ won, bằng 18%
tổng dư nợ (tương đương khoảng 27% GDP của Hàn Quốc năm 1998), trong đó
có 42% là nợ quá hạn từ 3 – 6 tháng, và 58% là nợ quá hạn trên sáu
tháng.
Để giải quyết lượng nợ xấu khổng lồ trên, vào 8.1997,
Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành một đạo luật cải tiến lại chức năng và
nhiệm vụ của KAMCO, vốn là một công ty quản lý tài sản nợ thuộc ngân
hàng phát triển Hàn Quốc (KDB), để cho phép công ty này mua – bán nợ xấu
của toàn bộ hệ thống tín dụng.
KAMCO được sở hữu bởi ba đơn vị: bộ Tài chính và kinh
tế (đóng góp 42,8% vốn), KDB (28,6%), và các định chế tài chính khác
(28,6%). Công ty này được vận hành bởi một uỷ ban gồm các đại diện đến
từ bộ Tài chính và kinh tế, bộ Kế hoạch và ngân sách, uỷ ban Giám sát
tài chính, hiệp hội các ngân hàng, công ty bảo hiểm tiền gửi KDB và ba
chuyên gia độc lập (một luật sư, một chuyên gia kiểm toán, và một chuyên
gia kinh tế).
KAMCO có nhiệm vụ điều hành một quỹ quản lý nợ xấu
(NPA) có thời hạn hoạt động năm năm để giải quyết nợ xấu của toàn bộ hệ
thống. Quỹ NPA này huy động tổng cộng 21,6 ngàn tỉ won, trong đó có 20,5
ngàn tỉ won đến từ việc phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh,
500 tỉ won vay từ KDB và số còn lại, 600 tỉ won đến từ các định chế tài
chính khác. Trái phiếu phát hành bởi NPA được thực hiện rải rác từ tháng
11.1997 – 12.1999.
Sau ba tháng kể từ ngày được giao chức năng nhiệm vụ
mới, KAMCO bắt đầu mua khoản nợ xấu đầu tiên trị giá 4,4 ngàn tỉ won vào
tháng 11.1997.
Tới tháng 4.2003, KAMCO đã mua tổng cộng 110,1 ngàn tỉ
won nợ xấu theo giá sổ sách của toàn bộ hệ thống tín dụng với tổng số
tiền 39,8 ngàn tỉ won và đồng thời bán được 65,9 ngàn tỉ won theo giá sổ
sách với tổng số tiền thu về là 31,1 ngàn tỉ won. Số nợ xấu còn lại
theo giá sổ sách là 44,2 ngàn tỉ won, với giá thị trường vào khoảng 12,8
ngàn tỉ won.
Quy trình mua bán nợ xấu
| KAMCO là mô hình rất hiệu quả. |
KAMCO mua các khoản nợ xấu của các tổ chức tài chính
dựa trên các tiêu chí nhất định, bằng nhiều phương pháp khác nhau. Khi
một tổ chức tài chính đề nghị bán nợ xấu cho KAMCO, KAMCO sẽ phân tích,
định giá, và đàm phán với bên bán về giá bán cuối cùng.
Vào thời gian đầu, việc định giá nợ xấu của KAMCO được
dựa trên khả năng mất vốn của các khoản nợ, theo các quy định về an toàn
vốn. Vào giai đoạn sau, KAMCO tiến hành định giá nợ xấu dựa trên đặc
điểm của từng khoản nợ. Tính trung bình, KAMCO trả 36% giá trị sổ sách
các khoản nợ xấu công ty này mua (tức được chiết khấu 64%). Các khoản nợ
xấu có thế chấp có giá trung bình bằng 67% giá trị sổ sách, còn các
khoản nợ xấu không có thế chấp có giá trị trung bình khoảng 11% giá trị
sổ sách.
Xét tổng thể thì KAMCO đã định giá cao hơn mức giá
trung bình trong giai đoạn đầu. Sau đó, việc định giá sát với thị trường
hơn, kích thích các công ty mua bán nợ xấu tư nhân tham gia mạnh hơn
vào quá trình này.
Việc thanh lý các khoản nợ xấu được tiến hành dưới
nhiều hình thức, từ đấu thầu quốc tế cho đến bán buôn, bán lẻ, và tiến
hành tái cấu trúc doanh nghiệp. Việc thanh lý chủ yếu được thực hiện vào
cuối năm 2008 khi tình hình kinh tế của Hàn Quốc có những cải thiện
đáng kể.
Vai trò của KAMCO
Tính đến tháng 4.2003, quỹ NPA do KAMCO điều hành đã
thu được khoản lãi lên tới 7,3 ngàn tỉ won. Tuy nhiên, nếu tính cả chi
phí vận hành, ước khoảng 9 ngàn tỉ won thì hoạt động của quỹ này thực ra
là lỗ. Đó là chưa tính khoản nợ xấu chưa thanh lý hết vào thời điểm quỹ
NPA được đóng, mà KAMCO có trách nhiệm tiếp tục xử lý.
Tuy nhiên, xét về tổng thể hoạt động của KAMCO, thông
qua quỹ NPA, nó được đánh giá là thành công. Những hành động quyết đoán
của KAMCO trong giai đoạn đầu đã giúp cho các công ty mua bán nợ xấu tư
nhân của Hàn Quốc mạnh dạn hơn tham gia vào thị trường. Nếu như năm
1997, toàn bộ giá trị các thương vụ mua bán nợ xấu tại Hàn Quốc đều do
KAMCO tiến hành thì con số này giảm xuống còn 58,15% vào năm 1998; và
2,81% vào năm 2000. Chính nhờ có sự tham gia của các công ty mua bán nợ
xấu tư nhân mà nợ xấu của Hàn Quốc đã giảm mạnh từ 17% tổng dư nợ vào
tháng 3.1998 xuống còn 2,3% vào cuối năm 2002.
Ngụ ý cho Việt Nam
Bài học của Hàn Quốc cho thấy trong bối cảnh nền kinh
tế rơi vào khủng hoảng hoặc trì trệ do tỷ lệ nợ xấu tăng nhanh thì việc
hình thành một công ty mua bán nợ tầm cỡ quốc gia để kích thích quá
trình xử lý nợ xấu là cần thiết. Việc trì hoãn hình thành một định chế
như vậy có thể sẽ làm cho tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tăng lên, càng làm
cho tình hình kinh tế vĩ mô bị xấu đi.
Ngay cả khi có quyết định hình thành một công ty mua
bán nợ xấu như vậy, cộng với một hành lang pháp lý rõ ràng, thì cũng
phải mất ít nhất ba tháng công ty đó mới có thể tiến hành được thương vụ
đầu tiên. Công ty mua bán nợ mà NHNN dự định thành lập, nếu vận hành
tốt, thì đó sẽ là một cú hích mạnh để hơn 20 công ty mua bán nợ trực
thuộc các ngân hàng thương mại tham gia giải quyết nợ xấu của hệ thống
tín dụng Việt Nam. Nếu thành công, nợ xấu của Việt Nam có thể quay trở
lại mức bình thường, dưới 3%, trong vòng 2 – 3 năm tới.
Theo Đinh Tuấn Minh
SGTT