Thị
trường bất động sản đang là đề tài nóng trên các phương tiện truyền thông trong
vài ngày gần đây. Có thể thấy rằng trong Q2/2012 giá chào bán thứ cấp đã chứng
kiến mức sụt giảm theo quý lớn nhất kể từ khi giá bắt đầu giảm và Q2/2011.
Trong khi đó trên thị trường sơ cấp, các chủ đầu tư tìm mọi cách thay đổi
phương thức bán hàng nhằm tiêu thụ lượng hàng tồn kho đang tăng tới mức kỷ lục
như: chiết khấu trực tiếp, hay thêm lựa chọn bàn giao thô hoặc gói nội thật liền
tường cơ bản…
Nguồn:
CBRE
Hiện nay trên sàn
chứng khoán Việt Nam (HOSE và HNX) theo tiêu chuẩn phân ngành cấp 4 của ICB có
63 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản. Dưới đây là bức tranh
toàn cảnh của ngành bất động sản trong Q1/2012.
| Chỉ
tiêu | Giá trị |
| Tổng lượng hàng tồn kho | 61,688.60
tỷ đồng |
| Chi phí xây dựng dở dang | 24,128.30
tỷ đồng |
| Tổng số tiền vay ngắn hạn | 18,516.54
tỷ đồng |
| Tổng số tiền vay dài hạn | 37,692.93
tỷ đồng |
| Tiền và tương đương tiền | 5,403.24
tỷ đồng |
| Các khoản phải thu | 28,139.38
tỷ đồng |
| Đầu tư tài chính ngắn hạn | 6,548.52
tỷ đồng |
| Đầu tư tài chính dài hạn | 21,417.36
tỷ đồng |
| Vốn chủ sở hữu | 65,956.74
tỷ đồng |
| Chi phí phải trả | 6,650.96
tỷ đồng |
| Trả trước người bán | 28,307.93
tỷ đồng |
| Người mua trả tiền trước | 26,562.19
tỷ đồng |
| Doanh thu thuần | 5,735.77
tỷ đồng |
| Lãi gộp | 2,489.76
tỷ đồng |
| Thu nhập tài chính | 615,94
tỷ đồng |
| Chi phí tài chính | 856.67
tỷ đồng |
| Lãi trước thuế | 1,438.69
tỷ đồng |
| Lãi sau thuế là | 1,063.94
tỷ đồng |
Theo
chuẩn mực kế toán Việt Nam thì có thể thấy rằng 90% chi phí xây dựng dở dang của
doanh nghiệp bất động sản là để hình thành hàng tồn kho. Như vậy, nếu tính gộp
chung có thể thấy lượng hàng tồn kho của doanh nghiệp bất động sản vào khoảng
83,804.08 tỷ đồng tăng 6,69% so với cuối năm 2011. Như vậy, lượng hàng tồn kho
đang chiếm tới 45,84% tổng tài sản của các doanh nghiệp vào thời điểm cuối
Q1/2012. Có thể nói đây là mức hàng tồn kho rất cao. Sẽ có hai câu hỏi đặt ra
vào lúc này? Nếu đây là mức tồn kho cực đại của ngành bất động sản thì có nghĩa
là thị trường bất động sản có thể chạm đáy và đi lên. Nhưng nếu đây chưa phải
là mức tồn kho cực đại, lượng hàng tồn kho có thể tiếp tục gia tăng và thị trường
bất động sản sẽ phải hứng chịu một đợt giảm giá nữa.
Tổng
lượng tiền mặt cuối Q1/2012 không đủ để thực hiện chi trả cho khoản chi phí phải
trả (Gồm các chi phí lãi vay và lãi vay được vốn hóa chưa thanh toán). Điểm
đáng chú ý là 69,4% lượng tiền mặt tập trung vào 6 công ty là VIC, HAG, NTL,
BCI, TIX…Điều này cho thấy phần lớn các công ty không còn tiền mặt để hoạt động.
Như vậy, để có thể thanh toán được các khoản chi phí phải trả, các doanh nghiệp
hoặc phải đẩy nhanh việc thu hồi công nợ, hoặc phải giải phóng bớt lượng hàng tồn
kho, thanh lý các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (Có thể chỉ là khoản tiền gửi
NHTM hoặc là khoản đầu tư cổ phiếu, trái phiếu…Hơn 50% khoản tiền đầu tư tài
chính ngắn hạn thuộc về VIC) hoặc phải vay thêm tiền trong Q2.
Tổng
số tiền vay ngắn hạn chiếm 28,07% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Đây là số tiền
phải đáo hạn rất lớn. Mặc dù trên thực tế, các khoản phải thu hiện tại đủ đáp ứng
khả năng thanh toán ngắn hạn cũng như các chi phí phải trả nhưng trên thực tế
chúng ta còn phải đặt ra hai vấn đề đáng lưu ý: Liệu trong những năm trước các
doanh nghiệp có dùng quân xanh để ghi nhận lợi nhuận ảo hay không. Có 5 công ty
có khoản phải thu trên 1000 tỷ đồng là HAG, VIC, SCR, KBC, DIG. Nếu như vậy, chất
lượng của các khoản phải thu là không cao bởi nó sẽ phụ thuộc vào việc quân
xanh có bán được nhà trên thị trường thứ cấp hay không.
Mức
lợi nhuận sau thuế nhìn thì vẫn rất khả quan nhưng trên thực tế 63,52% khoản lợi
nhuận đó thuộc về VIC. Như vậy, đa số các công ty còn lại có mức lãi rất khiêm
tốn và thậm chí là số âm.
Khả
năng ghi nhận doanh thu trong Q2/2012: Để ghi nhận được doanh thu qua đó thu được
lợi nhuận trong Q2, các doanh nghiệp phải giải phóng được hàng tồn kho. Nếu điều
này xảy ra có thể dòng tiền của các công ty sẽ cải thiện (Trừ trường hợp các
khoản phải thu tăng lên tương ứng với doanh thu). Hoặc các doanh nghiệp phải có
khoản người mua trả tiền trước để ghi nhận lợi nhuận (Tất nhiên doanh nghiệp bất
động sản còn hoạt động trong lĩnh vực xây lắp và việc ghi nhận doanh thu từ người
mua trả tiền trước còn tùy thuộc vào tiến độ thực hiện xây dựng…). Số liệu cho
thấy 63,70% khoản tài khoản người mua trả tiền trước thuộc về VIC cho thấy VIC
vẫn là công ty có khả năng có lợi nhuận lớn trong Q2. Điểm đặc biệt, STL với
hơn 1196 tỷ đồng tiền thu trước vẫn có khả năng ghi nhận doanh thu.
Những khó khăn mà
doanh nghiệp bất động sản đang phải đối mặt hiện tại là rất lớn. Nó bao gồm những
yếu tố sau:
- Hàng tồn kho đang ở mức cao
và với giá liên tục điều chỉnh giảm, không loại trừ khả năng sẽ có một số
doanh nghiệp phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
- Việc thiếu tiền để tiếp tục
triển khai xây dựng sẽ khiến các doanh nghiệp không thể thu thêm tiền của
khách hàng. Ngoài ra, do thị trường bất động sản giảm, nhiều nhà đầu tư
tìm mọi cách để không phải đóng tiền thông qua hình thức kiện chủ đầu tư rằng
hợp đồng vô hiệu.
- Các khoản nợ vay đáo hạn. Đa
số các doanh nghiệp bất động sản chịu chi phí lãi vay rất cao. Năm ngoái
các doanh nghiệp bất động sản đã tích cực huy động trái phiếu nhằm kéo dài
thời hạn thanh toán khi nhận thấy nguy cơ sụt giảm của thị trường bất động
sản do lãi suất tăng cao. (Trong năm 2011, các doanh nghiệp đã huy động được
khoảng 17.350 tỷ đồng từ TPDN. Phần lớn trái phiếu này là trái phiếu do
công ty BĐS hay CTCK phát hành . Theo uớc tính có đến 51% giá trị TPDN do
công ty BĐS phát hành và 40% trái phiếu do các CTCK phát hành trong khi chỉ
có 9% do doanh nghiệp sản xuất phát hành trong đó nhiều doanh nghiệp đã
phát hành trái phiếu với mức lãi suất lên tới xấp xỉ 30%/năm. Hiện tại, dù
lãi suất đã giảm nhưng các doanh nghiệp bất động sản vẫn thuộc nhóm chịu mức
lãi suất cao trên nhất trên thị trường quanh mức 18%/năm)
- Một số chính sách của chính
phủ không hỗ trợ ngành bất động sản: Thuế đất sẽ phải đóng theo giá thị
trường và không được đóng tiền thuế một lần. Điều này khiến chi phí của
các doanh nghiệp bất động sản tăng lên. Chính phủ không miễn thuế VAT cho
doanh nghiệp bất động sản.
Tất
nhiên không phải tất cả các doanh nghiệp đều cùng lúc với đối mặt với tất cả vấn
đề trên. Chẳng hạn, nhiều doanh nghiệp đã tranh thủ đóng tiền thuế một lần trước
khi nghị định 69 có hiệu lực để có quỹ đất giá rẻ như SJS, hay các doanh nghiệp
có thương hiệu mạnh như VIC vẫn triển khai bán hàng rất tốt và huy động được vốn
từ thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp khác cũng sử dụng các mối quan hệ của
mình để đảo nợ các khoản vay ngắn hạn thành dài hạn và chờ thị trường phục hồi
trở lại….
Mặc dù phải đối mặt
với nhiều khó khăn nhưng không phải thị trường bất động sản chỉ toàn màu xám:
Trong
Q2/2012 người mua đã trở lại và lượng chào mua đã tăng hơn hẳn so với thời kỳ
đóng băng thanh khoản trước đó. Với chính sách bán hàng mới, nhiều doanh nghiệp
bất động sản cũng đã bán được hàng. Kinh tế vĩ mô đang từng bước ổn định và lãi
suất cho vay mua nhà hiện đã giảm từ mức đỉnh 24% năm 2011 xuống quanh mức trước
khủng hoảng vào năm 2010 (15%). Điều đặc biệt là trong Q2/2012, người mua cũng
đã thay đổi cách tiếp cận mua nhà theo hướng chấp nhận mua những căn hộ có giá
dưới 30 triệu đồng/m2. Đây là những căn hộ đã xây móng và có tiến độ
xây dựng rõ ràng hơn chỉ tập trung vào những căn hộ có mức giá dưới 20 triệu đồng/m2
– là những căn hộ đang trong giai đoạn khởi công và không có tiến độ xây dựng
rõ ràng. Điều này cũng đã khiến một số chủ đầu tư dự án chuyển hướng kinh doanh
theo hướng hoàn thiện sản phẩm để bán (SJS, STL đều tuyên bố như vậy). Thực tế
trên thị trường VIC cũng đã thành công khi đi theo hướng này.
Khung pháp lý mới
cho thị trường bất động sản và chính sách của NHNN
·
Quỹ
tín thác bất động sản sau thời gian thí điểm ở Thành Phố Hồ Chí Minh có thể
nhân rộng ra cả nước;
·
UBCKNN trình dự thảo quỹ đầu tư bất động sản (REIT), công ty đầu tư chứng khoán bất
động sản (RESIC);
·
Quỹ
tiết kiệm nhà ở;
·
NHNN
đang lấy ý kiến góp ý trực tiếp vào dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều
của Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo
số liệu báo cáo của NHNN tính tới ngày 30/04/2012 thì hệ số CAR toàn ngành ngân
hàng vào khoảng 15,44%. Vốn đã điều chỉnh ước tính cho việc tính CAR vào khoảng
385 nghìn tỷ thì tổng tài sản có rủi ro vào khoảng hơn 2.500 nghìn tỷ. Tín dụng
bất động sản vào khoảng 151.678 tỷ đồng. Dư nợ bất động sản với hệ số 250% chiếm
khoảng 8,8% tổng tài sản có rủi ro. Khi tỷ trọng rủi ro giảm từ 250% xuống 150%
thì giải phóng được 100 nghìn tỷ cho tổng tín dụng và sẽ có thêm 67 nghìn tỷ
cho lĩnh vực bất động sản được nới ra. Con số này đủ để giải phóng 50% lượng
hàng tồn kho của các doanh nghiệp bất động sản vào lúc này. Đây chỉ là những con số tính trên cơ sở giữ
nguyên hệ số CAR và dư nguyên tổng dư nợ. Thực tế, nếu dư nợ tăng, vốn chủ sở hữu
của các NHTM tăng thì dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản cũng tăng lên.
Duy Vũ