TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tồn kho ở đâu và thế nào?

12-12-2012 - 14:26 PM | Doanh nghiệp

Tồn kho ở đâu và thế nào?

Theo nhiều chuyên gia, vấn đề nằm ở chỗ, tồn kho không “rải đều” trong toàn bộ nền kinh tế mà tập trung ở một số ngành tiêu thụ sản phẩm “bi đát” trong giai đoạn vừa qua.

Theo nhiều chuyên gia, vấn đề nằm ở chỗ, tồn kho không “rải đều” trong toàn bộ nền kinh tế mà tập trung ở một số ngành tiêu thụ sản phẩm “bi đát” trong giai đoạn vừa qua. DN có ý kiến rằng tồn kho sản phẩm không đáng ngại mà lo hơn là “tồn kho” nợ đọng và nợ xấu.

Tồn kho không như quan ngại

“Hai năm nay rồi, không khi nào Công ty để hàng tồn vượt quá 6 tuần bán hàng”, Giám đốc một DN kinh doanh bao bì tại phía Nam cho hay. Với mặt hàng có tính mùa vụ, phụ thuộc vào thời điểm thu hoạch của nông dân như của công ty nọ, việc quản lý hàng tồn ở mức thấp là khá bất thường.

“Trước thì còn cho phép sản xuất trái vụ để đón giai đoạn cầu tăng khi cà phê, gạo, sắn… thu hoạch. Nhưng do rủi ro lãi suất, công nợ cao nên bây giờ làm ít, ăn chắc cho qua giai đoạn này”, ông Giám đốc buông tiếng thở dài và tiếp “kinh doanh ế ẩm, hàng tồn kho phải khống chế giảm xuống là đương nhiên”.

Nhưng ngược với những toan tính của DN, các báo cáo từ phía cơ quan Chính phủ suốt năm qua luôn một điệp khúc về quan ngại hàng tồn kho. Phía Tổng cục Thống kê có lần cảnh báo rằng, trong một nền kinh tế phát triển bình thường, chỉ số tồn kho nên tăng ở mức 15 - 17% là hợp lý.

Tuy nhiên, các con số thống kê gần đây lại không cho thấy điều tương tự. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so với cùng kỳ trong khoảng hơn 1 năm qua luôn vượt mức 15 - 17% mà đỉnh điểm là hồi đầu năm nay tăng vọt lên gần 35%. Tại thời điểm 1/11/2012, con số này là 20,9%, cao hơn so với mức được công bố cách đó 1 tháng.

Trước thực tế này, Bộ Công Thương đã kiến nghị nhiều giải pháp tháo gỡ hàng tồn kho cho DN, mới đây còn kết nối việc các DN tiêu thụ hàng của nhau… Thế nhưng, cho đến gần đây đã xuất hiện những ý kiến cho rằng, vấn đề tồn kho không phải là phổ biến, thậm chí không đáng lo ngại ở hầu hết các DN.

“Tồn kho trong ngành sản xuất khó có khả năng tăng lớn”, TS. Lương Văn Khôi - Trưởng ban Kinh tế thế giới - Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCEIF) khẳng định. Theo ông, nếu nhìn vào tình hình xuất khẩu hàng hóa tăng mạnh trong năm 2012, nhập khẩu giảm và tín dụng vào sản xuất tăng thấp thì khả năng tồn kho tăng lớn là khó xảy ra.

Quan điểm của ông được ủng hộ từ phía các DN. Một khảo sát của NCEIF mới hoàn thành cách đây không lâu, được thực hiện với hơn 900 DN tại các địa bàn kinh tế trọng điểm như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và tỉnh Bắc Giang cho thấy, có tới 66,4% số ý kiến cho rằng tồn kho thành phẩm xét theo khối lượng là bình thường; chỉ có 15,1% cho rằng trên mức bình thường; nhưng có 9,1% đánh giá dưới mức bình thường.

“Đến đây có thể nhận định tình hình tồn kho thành phẩm của các DN thuộc ngành sản xuất trong nước không đáng ngại, thậm chí là có khả năng không có, không đúng như những gì chúng ta từng đánh giá trong thời gian qua”, ông Khôi bình luận.

Lo chính sách “lệch”

Theo nhiều chuyên gia, vấn đề nằm ở chỗ, tồn kho không “rải đều” trong toàn bộ nền kinh tế mà tập trung ở một số ngành tiêu thụ sản phẩm “bi đát” trong giai đoạn vừa qua. “Tồn kho vẫn rất nặng trong lĩnh vực bất động sản và gắn với bất động sản như vật liệu xây dựng chẳng hạn”, TS. Võ Trí Thành - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) nêu quan điểm.

Với những DN này, theo ông Trần Anh Vương - Phó chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội, tồn kho cao gây nhiều khó khăn cho DN. Thứ nhất, trị giá tài sản giảm xuống do đơn giá giảm. Thứ hai, nợ vay tăng lên do hàng tháng vẫn phải trả lãi vay cho tồn kho. Thứ ba, doanh thu không có vì không thể bán được do cầu yếu. Kết quả là khó khăn chồng chất khó khăn.

Đánh giá mức độ tồn kho thành phẩm của DN

Tuy nhiên còn một thực tế khác là những DN không có hàng tồn kho hoặc tồn kho thấp thì sao? Họ có thực sự không khó khăn hay không? Theo ông vương, DN dù tồn kho thấp nhưng công nợ phải thu lớn vì hàng hóa đã bán cho các DN, chủ đầu tư khác và chưa thu hồi được nợ. “Công nợ lớn và không thu hồi được thậm chí còn nguy hiểm hơn là tồn kho cao vì cùng lúc vẫn phải gánh những khó khăn như trường hợp có nhiều hàng tồn kho mà còn phải gánh thêm khó khăn là rủi ro về nợ xấu”, ông Vương nhấn mạnh.

Đồng tình quan điểm trên, TS. Võ Trí Thành thông tin thêm một loại “tồn kho” khác là 90 nghìn tỷ đồng nợ đọng xây dựng cơ bản, đang cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. TS. Nguyễn Đức Kiên - Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lưu ý rằng, mức nợ đọng xây dựng cơ bản kể trên chiếm tới một nửa tổng vốn đầu tư từ ngân sách hàng năm, đang “làm khó” khả năng cân đối của trung ương và địa phương. “Chính phủ nói rằng đến năm 2015 phải trả hết nợ đọng xây dựng cơ bản. Nhưng trả như thế nào thì chưa nói”, ông Kiên bình luận.

Ở điểm này, ông Vương lưu ý, số nợ xấu mà DN đang nợ ngân hàng thì còn thống kê được, nhưng số nợ xấu mà DN nợ DN, các công trình nhà nước còn nợ DN thì rất khó thống kê. Vướng mắc về pháp lý và thủ tục khiến cho các khoản nợ này ngày một phình to ra và không có cách giải quyết dứt điểm. DN làm ăn chân chính rơi vào tình trạng hụt hơi mà không được bảo vệ một cách thực thụ vì khó có thể đòi được nợ thông qua việc kiện ra tòa án.

Bình luận về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông cho rằng: “Chúng ta vẫn đưa thông tin tồn kho nhiều nhưng không nói rõ tồn ở đâu. Như vậy, giải pháp dễ bị lệch hướng”.

Theo Anh Quân

Thời báo ngân hàng

thunm

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên