Báo cáo của Chủ tịch Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam
Vũ Tiến Lộc
tại cuộc họp Chính phủ ngày 3-4 tháng 5 năm 2012
Tháng 4 năm 2012, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam và Bộ Kế hoạch Đầu tư đã đồng thời tiến hành các cuộc khảo sát quy mô lớn
với các doanh nghiệp trong cả nước. Kết quả các cuộc khảo sát này đưa ra bức
tranh về tình hình doanh nghiệp tương đối trùng khớp. Trên cơ sở kết quả khảo
sát và trực tiếp lắng nghe ý kiến phản ánh của các doanh nghiệp và hiệp hội
doanh nghiệp trong và ngoài nước, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam xin
được báo cáo về tình hình và kiến nghị của các doanh nghiệp như sau:
Trong năm 2011 và đặc biệt là quý I năm 2012, các chỉ
số về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng xấu đi, đặc
biệt là chỉ số về lợi nhuận, doanh số, hàng tồn kho, hiệu suất sử dụng máy móc
và số lượng lao động. Tỷ lệ các doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất và giải thể
trong năm 2011 và quý I năm 2012 chiếm 8,4% (trong đó ngừng sản xuất chiếm 4,3%
và giải thể là 4,1%). Cần khẳng định rằng việc doanh nghiệp gia nhập và rút lui
khỏi thị trường là hiện tượng bình thường trong nền kinh tế thị trường. Ở các
nước phát triển tỷ lệ doanh nghiệp giải thể ngay trong 3 năm đầu sau khi thành
lập là khoảng 25-30%. Ở nước ta, do năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
nói chung còn thấp, nên trong điều kiện khó khăn như hiện nay thì số lượng doanh
nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể tăng cao là điều dễ hiểu. Phần lớn các
doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc giải thể là do kinh doanh thua lỗ, nhưng cũng
có những lý do khác. Một số doanh nghiệp ngừng hoạt động hay giải thể một cách
chủ động do yêu cầu của quá trình tái cấu trúc. Theo số liệu khảo sát, có
khoảng 17% số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và 4,4% số các doanh
nghiệp giải thể là để chuyển đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh, gần 4,7% số
doanh nghiệp giải thể là để mua bán sáp nhập với các doanh nghiệp khác, 10,3%
số các doanh nghiệp giải thể để thành lập doanh nghiệp mới.
Có một điều đáng lưu ý là trong khi tỷ lệ doanh
nghiệp ngoài quốc doanh trong nước ngừng hoạt động hoặc giải thể chiếm tới trên
9,2% thì khu vực FDI chỉ có gần 2,6%. Điều này có thể lý giải là do khu vực FDI
gắn với chuỗi giá trị toàn cầu, có thị trường tiêu thụ ổn định, có khả năng
tiếp cận nguồn vốn ngoại tệ với chi phí thấp, có khả năng quản trị kinh doanh
bài bản nên có khả năng trụ vững tốt hơn.
Về triển vọng kinh doanh trong năm 2012:
có tới 68,5% số doanh nghiệp có kế hoạch tiếp tục duy trì và mở rộng sản xuất
kinh doanh, 31,5% sẽ thu hẹp quy mô kinh doanh và một bộ phận trong số này có
thể sẽ phải ngừng hoạt động hoặc giải thể). Trong quý I/2012, vẫn có hơn 18.700
doanh nghiệp mới được thành lập. Các con số này cho thấy, mặc dù bối cảnh kinh
tế rất khó khăn và sự lạc quan có phần giảm sút, nhưng phần lớn các doanh
nghiệp sẽ vẫn duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, một bộ phận doanh nghiệp
có khả năng mở rộng quy mô. Kết quả khảo sát còn cho thấy, các nhà đầu tư trong
và ngoài nước vẫn đánh giá cao triển vọng trung và dài hạn của nền kinh tế và
tin rằng Chính phủ đang có những bước đi đúng hướng. Họ xác định chịu đựng khó
khăn trong ngắn hạn để kiềm chế lạm phát là cần thiết để có được một môi trường
kinh tế vĩ mô tốt hơn trong tương lai. Hơn nữa, áp lực trong khó khăn cũng là
cơ hội để tái cấu trúc, nâng cao năng lực cạnh tranh và một bộ phận doanh
nghiệp đang làm tốt việc này.
Nhìn chung cộng đồng doanh nghiệp thể hiện sự đồng thuận cao với chủ trương và
việc tổ chức thực hiện quyết liệt các giải pháp của Nghị quyết 11 của
Chính phủ về việc kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã
hội và các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp để duy trì tăng trưởng. Doanh
nghiệp nhận thức rằng việc Chính phủ thực hiện các biện pháp mạnh để kiểm chế
lạm phát là rất cần thiết và đã mang lại kết quả tích cực. Tuy nhiên, kết quả
thực hiện các biện pháp trợ giúp doanh nghiệp nhằm hạn chế tác động của chính
sách tài khóa và tiền tệ chặt chẽ thì còn chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao, đặc
biệt là việc thực hiện các chương trình trợ giúp có trọng điểm, có mục tiêu
hướng vào phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hiện nay, theo phản ánh, tình hình chung của các doanh nghiệp là rất khó khăn.
Mà khó khăn lớn nhất đó là: chi phí sản xuất kinh doanh tăng cao ( chủ
yếu do chi phí nguyên nhiên vật liệu và giá vốn cao) và khó khăn
về thị trường tiêu thụ thu hẹp (do sức mua giảm mạnh), lượng hàng tồn
kho lớn và tập trung chủ yếu ở một số ngành như bất động sản, xây dựng và
vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến, chế tạo,thương mại, vận tải kho bãi…
Trong bối cảnh đó, cộng đồng doanh nghiệp mong muốn các nỗ lực điều hành chính
sách của Chính phủ tập trung vào việc giảm chi phí đầu vào cho doanh
nghiệp, cũng như hỗ trợ giải quyết vấn đề thị trường đầu ra song
song với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và tạo niềm tin cho
doanh nghiệp.
Dự báo, trong thời gian tới, những doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu tiếp tục
sẽ phải rút khỏi thị trường là điều khó tránh khỏi và đó cũng là yêu cầu của
cải cách cơ cấu. Bởi vì nguồn lực của chúng ta không nhiều và các biện pháp hỗ
trợ doanh nghiệp phải gắn với định hướng tái cơ cấu, nâng cao năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế, nên không thể dàn trải. Vì vậy, định hướng chính sách
theo chúng tôi, vẫn phải tiếp tục nhằm hỗ trợ các đối tượng mục tiêu như Nghị
quyết 11 của Chính phủ đã xác định. Đặc biệt, phải chú ý rà xét, xác định rõ và
trợ giúp kịp thời các doanh nghiệp có tiềm năng về năng lực cạnh tranh
và các dự án có hiệu quả (thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi quy
mô) nhưng đang gặp phải những khó khăn tạm thời để doanh nghiệp
có thể trụ vững và phát triển. Theo tinh thần đó, sau đây là một số kiến nghị
cụ thể:
1- Về
chính sách tài khóa và thị trường vốn
Trong bối cảnh hiện nay, khi khả năng tăng trưởng tín dụng khó khăn, do
khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp yếu và do độ trễ của chính sách tín dụng
thì chính sách tài khóa giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ
doanh nghiệp có thêm nguồn vốn và giảm chi phí kinh doanh, mở thị trường và
nâng cao năng lực cạnh tranh. Những giải pháp cần thực hiện trong lĩnh
vực này là:
1.1-Tăng tiến độ
phân bổ và giải ngân cho các dự án đầu tư công trong kế hoạch,
bảo đảm cung ứng vốn cho các công trình, tạo việc làm cho các doanh nghiệp xây
dựng và giải quyết đầu ra cho ngành vật liệu xây dựng góp phần giải quyết hàng
tồn kho cho các doanh nghiệp và sớm đưa các công trình vào sử dụng.
1.2-Giảm thuế và
giãn thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể là: giảm 30% đến 50%
số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2012 đối với thu nhập từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp tục gia
hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011. Đẩy nhanh lộ trình giảm thuế
thu nhập doanh nghiệp xuống mức 20%.
1.3-Kiểm soát
chặt chẽ việc tăng chi phí đầu vào đối với doanh nghiệp, đặc biệt là
giá điện, nước, than, xăng dầu, chi phí xuất nhập khẩu tại cảng... Có kế hoạch
giãn tiến độ điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ trên một cách hợp lý để tránh
tăng chi phí dồn dập. Trước mắt không áp dụng các loại phí mới như: phí hạn
chế phương tiện giao thông… Xem xét giảm phí công đoàn. Giãn và giảm thuế sử
dụng đất phi nông nghiệp vv…
1.4-Thực hiện các
biện pháp khuyến khích thúc đẩy phát triển thị trường vốn để tạo điều
kiện cho DN huy động nguồn lực xã hội thông qua phát hành trái phiếu, cổ
phiếu và thông qua quỹ đầu tư để đáp ứng nhu cầu đầu tư của của khu
vực ngoài Nhà nước, tránh lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay từ ngân hàng như
hiện nay (tới 80%).
1.5-Hạn chế phát
hành nợ của Chính phủ (dưới hình thức trái phiếu và tín phiếu) để giảm sự chèn
lấn đối với nợ của khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình. Hiện nay, việc
phát hành trái phiếu và tín phiếu đang cung cấp một đầu ra an toàn cho các ngân
hàng thương mại nhưng lại làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu vốn của doanh
nghiệp và không giúp làm cho lãi suất giảm một cách tương ứng với tốc độ giảm
của lạm phát.
2.Về chính
sách tiền tệ và tín dụng.
Tại thời điểm VCCI thực hiện khảo sát doanh nghiệp (từ ngày 1-4-2012 đến
20-4-2012) theo phản ánh vẫn có khoảng 50% doanh nghiệp đang vay vốn với mức
lãi suất trên 18%, trong khi mức lãi suất vay mà đa số họ (khoảng 75% số doanh
nghiệp) có thể chịu đựng được là 15% và mức lãi suất vay mà họ cho là hợp
lý là khoảng 13%-14% . Chúng tôi đề nghị:
2.1-Tiếp tục lộ
trình giảm lãi suất một cách tích cực để giảm chi phí
vốn cho doanh nghiệp. Chỉ số CPI tháng 4/2012 đã giảm xuống chỉ còn 10,5% so
với cùng kỳ năm 2011, đây là cơ sở để Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm lãi suất
trong khi vẫn bảo đảm cho người gửi tiền có lãi suất thực dương và lạm
phát vẫn trong tầm kiểm soát.
2.2-Tiếp theo việc
sửa đổi thông tư 493, đề nghị Ngân hàng Nhà nước tăng cường chỉ đạo các ngân
hàng thương mại đẩy mạnh các biện pháp xử lý nợ xấu, theo hướng rà
soát, phân loại nợ, cơ cấu lại các kỳ hạn trả nợ, tạo điều kiện tiếp tục cho
vay vốn đối với các doanh nghiệp có dự án đầu tư có tác động kinh tế - xã
hội lớn, có phương án kinh doanh đạt hiệu quả, đặc biệt ưu tiên cho vay đối với
các công trình dự án dở dang sắp hoàn thành để tránh lãng phí xã hội, tạo việc
làm cho người lao động và tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể hoàn trả vốn
vay ngân hàng.
2.3-Điều hành tỷ giá
linh hoạt góp phần khuyến khích xuất khẩu.Tiếp tục cơ chế cho vay ngoại tệ đối
với các doanh nghiệp xuất khẩu để hạ thấp chi phí vốn cho các doanh nghiệp này
duy trì sản xuất kinh doanh và giữ vững thị trường xuất khẩu.
2.4-Mở rộng nguồn vốn
ưu đãi từ Ngân hàng phát triển Việt Nam và các Ngân hàng
thương mại Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu tư hiện đại hóa, nâng
cao năng lực cạnh tranh trong các ngành nghề và lĩnh vực trọng điểm.
2.5-Hỗ trợ khu
vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn vay với lãi
suất hợp lý. Để triển khai việc này cần có các biện pháp tổng thể, không chỉ
liên quan đến mức lãi suất mà cả thủ tục vay vốn, bảo lãnh tín dụng, tạo
nguồn vốn và đảm bảo nguồn vốn đến đúng đối tượng được vay. Trước mắt, đề nghị
tập trung vào các vấn đề sau:
-Sớm thành lập
Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định
56/ 2009- NĐ-CP tạo nguồn vốn đề ủy thác cho các ngân hàng thương mại cho vay
đối với các DNNVV.
-Triển khai mô
hình cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp cực nhỏ (dưới 10 lao động ) có
kế hoạch kinh doanh khả thi và có các tiêu chí định mức tín nhiệm tin cậy
với sự hợp tác của các hiệp hội. Mở rộng hình thức cho vay thế chấp bằng sản
phẩm của các doanh nghiệp.
-Rà xét, đánh giá
để có biện pháp mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV của Ngân hàng phát triển Việt Nam và
của các quỹ bảo lãnh tín dụng ở các địa phương.
-Có biện pháp
khuyến khích các ngân hàng thương mại tăng tỷ lệ dư nợ tín dụng và thực hiện
các chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi cho DNNVV
-Tăng cường hỗ
trợ kỹ thuật nâng cao năng lực quản trị của các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tư
vấn, hướng dẫn cho đối tượng này xây dựng kế hoạch kinh doanh và dự án vay vốn
từ các ngân hàng.
3.Vềchính
sách phát triển thị trường
Hiện nay thị trường tiêu thụ là vấn đề khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp.
Để giải quyết việc này cần có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp khai thác
tốt thị trường trong nước. Cần tiếp tục cuộc vận động “Người Việt Nam ưu
tiên dùng hàng Việt Nam”, phát triển thị trường nội bộ qua sự liên kết của
các hiệp hội doanh nghiệp, hình thành các chuỗi liên kết ngành, vùng
. Triển khai các biện pháp đưa hàng Việt về nông thôn. Hỗ trợ xây
dựng các mô hình kinh doanh của người nghèo đặc biệt là trong lĩnh vực nông
nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác tiềm năng của thị trường vùng
sâu, vùng xa, đối tượng người có thu nhập thấp bằng việc sản xuất ra những sản
phẩm có chất lượng với giá cả và phương thức phân phối phù hợp.
Nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng
lực để có thể trở thành những nhà cung ứng sản phẩm cho đầu tư và chi tiêu
công. Nghiên cứu sửa đổi Luật và các quy định về đấu thầu, xây dựng các hàng
rào kỹ thuật phù hợp tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận
tốt hơn và tận dụng được lợi thế khi tham gia đấu thầu xây dựngvà mua sắm công.
Có quy định dành một tỷ lệ thích hợp các gói thầu cho DNNVV. Đề nghị xem xét miễn thuế giá trị gia tăng đối
với các sản phẩm linh kiện, máy móc thiết bị nhâp khẩu mà trong nước chưa sản
xuất được phục vụ các công trình dự án theo hình thức đấu thầu EPC do các doanh
nghiệp trong nước thực hiện.
Để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường,
đề nghị đẩy nhanh tiến độ đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại song
phương và đa phương với các nước, các khu vực để mở của thị trường, bố trí tăng
kinh phí và nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại
trong và ngoài nước tập trung vào các thị trường mới có tiềm năng.
4.Vềcải
cách thủ tục hành chính
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục
hành chính theo các gói đề xuất của Đề án 30 của Chính phủ, bảo đảm các cơ
quan công quyền và công chức đồng hành cùng doanh nghiệp, bảo đảm công khai
minh bạch, giảm thời gian, chi phí và rủi ro hành chính cho doanh
nghiệp. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay thì hợp tác của cơ quan chính
quyền địa phương với doanh nghiệp trong việc giải quyết tốt các thủ tục đẩy
nhanh tiến độ triển khai các dự án có tiềm năng và ảnh hưởng lớn tới phát
triển kinh tế - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng. Đối với các dự án mà chủ đầu
tư đang có khó khăn thì cần xem xét giãn các khoản phải nộp cho
địa phương, giãn tiến độ thực hiện, phân kỳ đầu tư thực hiện từng
tiểu phần của dự án để giảm bớt áp lực, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
5.Về các
biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp tái cấu trúc
Đề nghị Chính phủ ban hành sớm đề án tái cấu trúc nền
kinh tế đồng thời với việc xây dựng chính sách công nghiệp quốc gia
để định hướng cho hoạt động của doanh nghiệp. Đẩy mạnh quá trình tái
cấu trúc các DNNN và các ngân hàng thương mại. Ngoài các chương trình hỗ
trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có chương trình hỗ trợ doanh nghiệp lớn
nâng cao trình độ quản trị, đặc biệt là quản trị chiến lược và tài chính,
tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi xây dựng các chuẩn mực quản trị
hiện đại, thực hiện tốt các biện pháp tiết kiệm, cắt giảm chi phí
để giảm giá thành sản phẩm, xây dựng và thực hiện tốt cơ chế kiểm soát rủi
ro trong doanh nghiệp.
6.Về công
tác thông tin, đối thoại giữa các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp
Tăng cường cơ chế thông tin và đối thoại giữa
các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp, phản ánh kịp thời thực trạng và kiến
nghị từ cộng đồng doanh nghiệp tới Chính phủ và thông tin về định hướng chính
sách của chính phủ đối với doanh nghiệp, tạo sự đồng thuận và niềm tin vào thị
trường. Hiện nay, hệ thống thông tin về doanh nghiệp khá phân tán và chưa được
cập nhật tốt. Đề nghị các Bộ ngành hữu quan, trước hết là Bộ Kế hoạch Đầu tư,
Bộ Tài chính quan tâm hơn tới việc này. Về phía VCCI, chúng tôi sẵn sàng hợp
tác với các Bộ, Ngành trong việc góp phần xây dựng hệ thống thông tin doanh
nghiệp. Chúng tôi cũng sẽ chủ động tiến hành các nghiên cứu khảo sát đánh giá
định kỳ về tình hình và kiến nghị của doanh nghiệp để báo cáo Thủ tướng Chính
phủ.
Trên đây là báo cáo tóm tắt về tình hình
và kiến nghị của doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam kính
trình Thủ tướng xem xét, quyết định.
Toàn văn
Theo Chinhphu.vn