Tin mới

VN-Index:

GTGD : tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD : tỷ VNĐ

Doanh nghiệp

Thứ 2, 15/08/2016, 08:55

EVN nói gì về thông tin giá điện tăng nhưng chất lượng chưa tăng tương ứng?

EVN nói gì về thông tin giá điện tăng nhưng chất lượng chưa tăng tương ứng?

Chất lượng điện cần được nhìn nhận trên các góc độ như khả năng cung ứng điện, thời gian lắp đặt điện, thời gian và tần suất mất điện, công tác dịch vụ khách hàng…

Điện thương phẩm bình quân tăng mạnh

Liên quan đến vấn đề giá điện, dư luận cũng như trong hội trường Quốc hội từng có ý kiến cho rằng, giá điện tăng nhưng chất lượng điện chưa tăng tương ứng, điều này được ông Dương Quang Thành, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Điện lực Việt Nam ( EVN ) lý giải rằng, cần nhìn nhận trên các góc độ như khả năng cung ứng điện, thời gian lắp đặt điện, thời gian và tần suất mất điện, công tác dịch vụ khách hàng…

Cụ thể, về cung ứng điện, ông Thành cho biết, EVN đã đáp ứng đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tổng sản lượng EVN cung ứng lên hệ thống điện quốc gia gồm điện sản xuất và mua 3 năm 2013-2015 là 430,7 tỷ kWh, tăng trưởng bình quân 10,67%/năm, số lượng khách hàng sử dụng điện tính đến cuối năm 2015 là 23,68 triệu khách hàng, tăng thêm 1,27 triệu khách hàng so với cuối năm 2014.

“Tốc độ tăng điện thương phẩm bình quân giai đoạn 2013-2015 là 10,86% gấp 1,8 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 3 năm là 6,03%”, ông Thành dẫn số liệu.

Cũng theo ông Dương Quang Thành, để đáp ứng kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ gia tăng phụ tải cao chỉ tính riêng trong 3 năm 2013-2015, EVN đã đầu tư phát triển nguồn điện và lưới điện với tổng số vốn là 338.378 tỷ đồng.

Bên cạnh, đó, hoàn thành đưa vào phát điện 18 tổ máy thuộc 11 dự án với tổng công suất 6.434 MW; hoàn thành 591 công trình lưới điện 110-500 kV với tổng chiều dài đường dây khoảng 8.000 km và tổng dung lượng trạm biến áp tăng thêm là khoảng 30.500 MVA.

Vị lãnh đạo EVN cũng thừa nhận, trước đây có tình trạng thời gian lắp đặt điện, cấp điện mới theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp còn chậm tuy nhiên, từ năm 2015, các chỉ tiêu về cấp điện mới cho khách hàng đã có sự cải thiện mạnh mẽ.

Cụ thể, năm 2015, có 92,79% số khách hàng sinh hoạt khu vực thành phố/thị xã/thị trấn được lắp đặt mới và cấp điện trong thời gian ≤ 3 ngày trong khi năm 2013 là 70,36%.

Ông Dương Quang Thành, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Ảnh: TL
Ông Dương Quang Thành, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Ảnh: TL

Có 94,53% khách hàng sinh hoạt khu vực nông thôn được lắp đặt mới và cấp điện trong thời gian ≤ 5 ngày trong khi năm 2013 là 70,88% và 96,41% số khách hàng ngoài sinh hoạt được lắp đặt mới và cấp điện trong thời gian ≤ 7 ngày trong khi chỉ tiêu này, năm 2013 là 83,05%.

“Tập đoàn đã chỉ đạo các Tổng công ty điện lực rà soát, thay đổi các quy trình thủ tục nội bộ thực hiện chỉ số tiếp cận điện năng các thủ tục của Điện lực bình quân năm 2015 toàn EVN thực hiện còn 8,77 ngày, giảm 29,23 ngày so với năm 2013”, ông Thành nhấn mạnh.

Thời gian mất điện bình quân giảm mạnh

Về thời gian và tần suất mất điện, Chủ tịch HĐTV EVN cũng cho biết, tính chung toàn EVN, trong 6 tháng đầu năm, tổng thời gian mất điện khách hàng bình quân (SAIDI) là 806 phút, giảm 18% so với cùng kỳ 2015; tần suất mất điện thoáng qua bình quân (MAIFI) là 0,67 lần/khách hàng (giảm 23%), tần suất mất điện kéo dài bình quân (SAIFI) là 5,75 lần/khách hàng (giảm 12,5%).

Như vậy, với những con số nêu trên, Việt Nam đang tiệm cận với top 4 ASEAN về các chỉ số SAIDI, SAIFI.

Đại diện EVN cũng cho biết, hiện EVN đã có thêm 14 chỉ tiêu liên quan đến chất lượng dịch vụ khách hàng bên cạnh các chỉ tiêu chính về kinh doanh điện như tỷ lệ tổn thất điện năng, giá bán bình quân, tỷ lệ thu tiền điện, sản lượng điện thương phẩm.

Theo số liệu được cập nhật, tính riêng 6 tháng năm 2016, tỷ lệ đáp ứng đúng yêu cầu tiêu chuẩn dịch vụ của các chỉ tiêu dịch vụ đều tăng cao như phục hồi cấp điện sau sự cố trong vòng 2h đạt 97,95%; thông báo ngừng giảm cung cấp điện không khẩn cấp đạt 99,46%.

Ngoài ra, thông báo ngừng giảm cung cấp điện khẩn cấp đạt 99,91%; thay thế thiết bị đóng cắt trung thế 98,82%; lắp đặt công tơ sinh hoạt khu vực thành phố, thị xã, thị trấn dưới 3 ngày đạt 98,04%; lắp đặt công tơ sinh hoạt khu vực nông thôn dưới 5 ngày đạt 99,72%; lắp đặt công tơ ngoài mục đích sinh hoạt dưới 7 ngày đạt 99,71%.

Qua kết quả thực hiện đánh giá độc lập trong vòng 3 năm liên tục cho thấy, mức độ hài lòng của khách hàng bình quân toàn EVN đã tăng 0,82 điểm và tăng dần theo thời gian, năm 2013 điểm bình quân là 6,45 điểm, năm 2014 là 6,9 điểm đến năm 2015 là 7,27 điểm.

Theo Tâm An

BizLIVE

Từ khóa
tin mới