TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Bước ra biển mới thấy con tôm "ốm yếu"

05-04-2009 - 08:00 AM | Hàng hóa - Nguyên liệu

Bước ra biển mới thấy con tôm "ốm yếu"
Thu hoạch tôm. Con tôm Việt Nam có giá thành cao hơn nhiều nước trong khu vực

Khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra, xuất khẩu tôm, mặt hàng chiến lược nhiều năm qua của ngành thủy sản, đã bộc lộ yếu kém của mình mà bao năm qua ít được chú ý.

Hiện tại, xuất khẩu tôm của Việt Nam tụt giảm mạnh và từ vị trí mặt hàng chủ lực của ngành thủy sản, nay phải nhường chỗ cho con cá tra, cá ba sa. Đồng thời, câu chuyện đằng sau đó là những tác động ảnh hưởng lên hơn nửa triệu héc ta nuôi tôm cả nước và hàng triệu hộ nông dân có liên quan.

Giá thành cao

Không phải bây giờ mà vài năm gần đây, một số doanh nghiệp lớn xuất khẩu tôm của Việt Nam đã than phiền giá thành nuôi tôm trong nước quá cao là lý do chính khiến con tôm sau chế biến xuất khẩu, ít có khả năng cạnh tranh so với các quốc gia xuất khẩu tôm trong khu vực.

Ông Chu Văn An, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần thủy sản Minh Phú ở Cà Mau, cho biết trên thị trường thế giới, sản phẩm tôm sú của các doanh nghiệp trong nước thường phải bán thấp hơn giá tôm của Thái Lan 0,1 - 0,2 đô la Mỹ/kg, bán bằng giá tôm của Indonesia và bán cao hơn giá tôm của Ấn Độ, Bangladesh 0,1 - 0,2 đô la Mỹ/kg.

Như vậy, có thể nói tôm Việt Nam sau khi chế biến bán ra thế giới ngang bằng với các nước trong khu vực có điều kiện nuôi tôm như nước ta. Thế nhưng, con tôm sú đầu vào mà doanh nghiệp mua của nông dân lại cao hơn các nước tính ra tiền Việt từ 15.000 - 30.000 đồng/kg, cáo hơn khoảng 15 - 30%.

Cụ thể, giá tôm sú tại Bangladesh cỡ 21 - 25 con/kg có giá 8,15 đô la Mỹ/kg thì Việt Nam cùng cỡ này có giá 9,09 đô la, tức cao hơn 11,5%; cỡ 26 - 30 con/kg thì tôm Việt Nam cao giá hơn 21%; cỡ 31 - 40 con/kg thì Việt Nam cao giá hơn Bangladesh tới 31%.

Ngay cả tôm thẻ chân trắng được nông dân các tỉnh ĐBSCL thả nuôi vì có thể giúp giảm giá thành thì khi bán cho các nhà máy vẫn cao hơn tôm thẻ ở Indonesia 16 - 18% tùy theo kích cỡ.

Một doanh nghiệp thủy sản khác cho biết giá tôm nguyên liệu đầu vào của Việt Nam cao hơn các nước lân cận nhưng nông dân vẫn than lỗ và không nuôi được, thậm chí “treo" ao đầm; ngược lại nông dân các nước thì vẫn nuôi có lãi và tăng sản lượng đều đặn.

Giải mã

Theo nhiều doanh nghiệp chế biến tôm lẫn các chuyên gia thủy sản, giá thành nuôi tôm Việt Nam cao hơn nhiều nước xung quanh nằm ở 5 nguyên nhân chính mà lỗi phần lớn không phải do nông dân có trình độ nuôi thấp hơn. Thậm chí, nông dân nuôi tôm Việt Nam còn được đánh giá là nắm bắt cái mới nhanh nhạy hơn nông dân nuôi tôm các nước.

Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất là đất nuôi tôm. Ở Việt Nam, tại vùng nuôi tôm trọng điểm ĐBSCL, mỗi hộ nông dân nuôi tôm thường có 1 héc ta tới vài héc ta, hộ nào nhiều lắm thì mới có 40 đến 100 héc ta nhưng số này đếm không quá đầu ngón tay.

Trong khi ở các nước như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, các hộ nuôi tôm có diện tích hàng trăm, thậm chí hàng ngàn héc ta, quy mô không khác gì một nông trường, nên chi phí đầu tư ban đầu tính vào giá thành tôm thấp.

Điều cốt lõi là các nước như Thái Lan, Indonesia, Chính phủ quy hoạch vùng nuôi tôm tập trung và đầu tư vào khu quy hoạch về hạ tầng giao thông, thủy lợi, hệ thống điện nên nông dân của họ tiết giảm được chi phí vận chuyển thức ăn, lấy nước, thu hoạch và đưa tôm tới nhà máy.

Còn ở Việt Nam, diện tích nuôi tôm sú trọng điểm là vùng ĐBSCL nhưng gần như không ai chỉ ra được quy hoạch nuôi tôm ở đâu nên nếu nhìn trên bản đồ nuôi tôm thì diện tích đất nuôi tôm loang lỗ, manh mún như “da beo”, mỗi chỗ một ít. Đã không có quy hoạch thì tất nhiên không có đầu tư giao thông, thủy lợi nên chi phí nông dân vận chuyển vật tư phục vụ nuôi tôm cao.

Kênh thủy lợi lấy nước nuôi tôm thì đa phần nông dân tự đào nên mới có chuyện đầu lấy nước vào của ao tôm, của một vùng tôm nào đó có khi lại là đầu ra nước thải của ao tôm khác, của vùng nuôi khác, giải thích phần nào nguyên do dịch bệnh tôm cứ tái diễn liên tục, mà càng dịch bệnh thì giá thành nuôi càng cao.

Khâu yếu thứ hai là con giống. Các nước lân cận thì nhà nước đứng ra đầu tư con giống hoặc tài trợ doanh nghiệp đầu tư con giống sạch (không có bệnh), tăng trưởng nhanh và thích nghi môi trường sở tại.

Do vậy nông dân của họ nuôi tôm 100 ngày đạt 34 - 35 gam/con và tỷ lệ sống đạt 90%. Tại Việt Nam thì doanh nghiệp sản xuất giống tự vận động, nguồn tôm bố mẹ không rõ ràng nên chất lượng tôm con thường kém, nuôi 180 ngày mới có trọng lượng bằng của họ, mà tỷ lệ sống bình quân chỉ 60%.

Nguyên nhân thứ ba là giá thành thức ăn cho tôm các nước lại thấp hơn Việt Nam 20%. Việt Nam là quốc gia sản xuất nông nghiệp nhưng phần lớn nguyên liệu sản xuất thức ăn ngành chăn nuôi lại phải nhập khẩu, mà chi phí thức ăn chiếm 60 - 70% giá thành tôm nguyên liệu.

Thứ tư là vốn. Đầu tư cho 1 héc ta tôm ban đầu cần ít nhất 150 triệu đồng, nếu thả nuôi thì chi cho thức ăn, giống, thuốc, máy móc… phải hơn 200 triệu. Đây là số tiền quá lớn đối với nông dân nhưng nếu thế chấp, nông dân cao lắm vay được 15% số tiền cần đầu tư, còn lại phải vay ngoài lãi suất cao.

Do vậy nên người nuôi “liệu cơm gắp mắm”, mua con giống giá rẻ, thức ăn chất lượng không rõ ràng, đầu tư không đến nơi đến chốn nên lượng tôm nuôi càng lớn thì tôm chết càng nhiều, càng hao hụt.

Cuối cùng là sự bất cập của một chính sách hỗ trợ nông dân từ nhiều năm qua. Để hỗ trợ nông dân, hiện Việt Nam không thu thuế giá trị gia tăng (VAT) nông thủy sản mà nông dân tự sản xuất và bán ra.

Nhưng đồng thời nông dân sẽ không được hoàn lại thuế VAT cho các chi phí đầu vào mà nông dân nuôi tôm phải bỏ ra, từ máy móc, thức ăn, nhiên liệu và gần như nông dân mua cái gì để đầu tư cho con tôm thì các mặt hàng này đều chịu thuế VAT 5 - 10%.

Vì khi bán tôm cho nhà máy, nông dân không phải chịu thuế VAT, đồng nghĩa với việc nông dân không được hoàn lại thuế VAT đầu vào khi nuôi. Điều này cũng có nghĩa phần tiền không được hoàn lại sẽ làm đội giá tôm lên.

Theo Hồng Văn
TBKTSG

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM