tin mới
X
+
-

Bổ sung quy định về Luật Thuế Thu nhập cá nhân

Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) vừa tiếp tục được chỉnh sửa bổ sung bằng Thông tư 02/2010 do Bộ Tài chính ban hành tháng 1/2010.

Thêm 2 khoản tiền lương, tiền công không phải chịu thuế

Theo Thông tư 02, các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế gồm:

Thứ nhất, không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công một số khoản mà cán bộ công chức, cán bộ chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang được chi trả hoặc đơn vị chi trả thanh toán hộ các cá nhân theo chế độ quy định của Nhà nước. Cụ thể: Khoản được nhận theo chế độ ban hành kèm theo Quyết định số 205/2004 ngày 10/12/1994 của Thủ tướng Chính phủ; Phụ cấp phục vụ ban hành kèm theo Quyết định số 269/2005 ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp phục vụ; Chế độ trang bị hoặc khoản được nhận theo chế độ khoán sử dụng xe ô tô phục vụ công tác ban hành kèm theo Quyết định 59/2007 ngày 7/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng phương tiện đi lại trong cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, công ty Nhà nước; Khoản được nhận theo chế độ nhà công vụ quy định tại Nghị định số 90/2006 ngày 6/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở, và Quyết định 09/2008 ngày 11/1/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành nguyên tắc thiết kế và tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ.

Thứ hai, không tính vào thu nhập chịu thuế các khoản được nhận của cán bộ công chức và những cá nhân khác nhận được từ các công việc sau: Tham gia ý kiến, thẩm định, thẩm tra các văn bản pháp luật, nghị quyết, các báo cáo chính trị; Tham gia các đoàn kiểm tra giám sát, tiếp cử tri, tiếp công dân, trang phục và các công việc khác có liên quan đến phục vụ trực tiếp hoạt động của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, từ Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng, từ Văn phòng Thành uỷ, Tỉnh uỷ và các Ban của Thành uỷ, Tỉnh uỷ.

Ngoài ra, việc xác định các khoản phụ cấp được trừ khi tính thu nhập chịu thuế hoặc các khoản khoán chi không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2, mục II, phần A Thông tư 84/2008 ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính và Điều 1 Thông tư 62/2009 ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư 84/2008 ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế TNCN.

Không miễn thuế cho nhà ở, đất ở phát sinh

Việc miễn thuế TNCN chỉ áp dụng đối với cá nhân chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất mà nhà ở, đất ở này đã được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.

Đối với cá nhân đã có nhà ở, đất ở, nay có phát sinh thêm việc chuyển nhượng hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, căn hộ, hoặc chuyển nhượng hợp đồng mua nền nhà, mua căn hộ thì thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng này không được áp dụng quy định miễn thuế TNCN.

Các trường hợp nhận thừa kế, quà tặng là hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, căn hộ không được miễn thuế TNCN theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 của Nghị định 100/2008 ngày 8/9/2008 của Chính phủ.

2 khoản bảo hiểm được giảm trừ

Thông tư 02/2010 cũng quy định giảm trừ đối với 2 khoản bảo hiểm bắt buộc.

Thứ nhất, cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Bộ Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội được trừ các khoản bảo hiểm này vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế. Tiền đóng bảo hiểm của năm nào được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó.

Thứ hai, cá nhân người nước ngoài là đối tượng cư trú tại Việt Nam, người Việt Nam là cá nhân cư trú nhưng làm việc tại nước ngoài có thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công ở nước ngoài tham gia đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia cá nhân cư trú mang quốc tịch tương tự quy định của pháp luật Việt Nam như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc và các khoản bảo hiểm bắt buộc khác (nếu có) thì được trừ các khoản phí bảo hiểm đó vào thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, tiền lương, tiền công khi tính thuế TNCN.

Cá nhân thuộc các đối tượng được giảm trừ vừa nêu phải có chứng từ chứng minh đã nộp các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của nước ngoài. Chứng từ chứng minh gồm: chứng từ thu tiền của cơ quan bảo hiểm hoặc xác nhận của cơ quan chi trả thu nhập về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp (trường hợp cơ quan chi trả nộp thay).

Cá nhân người nước ngoài và người Việt Nam có tham gia đóng góp các khoản bảo hiểm nêu trên ở nước ngoài sẽ được tạm giảm trừ ngay vào thu nhập để khấu trừ thuế trong năm (nếu có chứng từ) và quyết toán theo số chính thức khi hết năm; trường hợp không có chứng từ để tạm giảm trừ trong năm thì sẽ giảm trừ 1 lần khi quyết toán thuế.

4 điều kiện để áp thuế suất 25% đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản

Thông tư 02/2010 quy định cụ thể rằng cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập tính thuế phải đáp ứng các điều kiện sau:

Một là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng và kê khai trên tờ khai thuế không thấp hơn giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với quyền sử dụng đất) hoặc không thấp hơn giá tính lệ phí trước bạ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với nhà và các công trình xây dựng) tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật.

Trường hợp giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng và kê khai trên tờ khai thuế thấp hơn giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với quyền sử dụng đất) hoặc thấp hơn giá tính lệ phí trước bạ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định (đối với nhà ở và các công trình xây dựng) tại thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật thì áp dụng thuế suất 25% tính trên giá do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định.

Hai là giá mua và các chi phí liên quan (các chi phí liên quan đến cấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, chi phí cải tạo đất, nhà, chi phí xây dựng, các chi phí có liên quan khác) người nộp thuế kê khai phải có hoá đơn, chứng từ hợp pháp làm căn cứ chứng minh giá mua và các chi phí liên quan mà người nộp thuế kê khai là đúng.

Đối với cá nhân chuyển nhượng hợp đồng góp vốn để có quyền mua nền nhà, mua căn hộ thì giá mua được xác định căn cứ vào chứng từ nộp tiền góp vốn và hoá đơn, chứng từ khác chứng minh các chi phí liên quan. Các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản bao gồm cả các khoản trả lãi tiền vay của các tổ chức tín dụng để mua bất động sản. Riêng trường hợp mới chỉ góp một phần vốn (chưa nộp đủ số tiền theo hợp đồng) thì giá mua được xác định như sau:

Giá mua = (Tổng số vốn phải góp theo hợp đồng - Phần vốn góp còn thiếu (chưa nộp)) – Các chi phí có liên quan khác.

Trường hợp người nộp thuế kê khai giá mua và chi phí liên quan nhưng không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ chứng minh giá mua và chi phí, hoặc có kèm theo hoá đơn, chứng từ nhưng qua kiểm tra, cơ quan thuế phát hiện có hoá đơn, chứng từ không hợp pháp, không hợp lệ, thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng.

Ba là cá nhân chuyển nhượng bất động sản tự kê khai, tự xác định mức thuế suất áp dụng và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ kê khai.

Cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ khai thuế có trách nhiệm kiểm tra tờ khai và các tài liệu kèm theo hồ sơ, nếu đủ các điều kiện áp dụng thuế suất 25% tính trên thu nhập chịu thuế thì chấp nhận kết quả tính thuế của người chuyển nhượng. Trường hợp không chấp nhận kết quả tính thuế thì phải trả lời rõ để người chuyển nhượng biết.

Bốn là trường hợp cá nhân kê khai nộp thuế theo thuế suất 25% tính trên giá chuyển nhượng nhưng qua kiểm tra thấy giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng và kê khai thuế thấp hơn giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì tính thuế theo thuế suất 2% trên giá do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

“Nhẹ tay” hơn với một số trường hợp vi phạm

Trường hợp cá nhân có phát sinh hoàn thuế thu nhập cá nhân nhưng chậm nộp tờ khai quyết toán thuế theo quy định thì không áp dụng phạt đối với vi phạm hành chính khai quyết toán thuế quá thời hạn như quy định trước đây.

Đối với trường hợp người sử dụng đất do nhận chuyển nhượng trước ngày 1/1/2009 nay nộp hồ sơ hợp lệ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chỉ truy thu 1 lần thuế TNCN của lần chuyển nhượng cuối cùng, các lần chuyển nhượng trước đó không bị truy thu thuế.

 
Tuy nhiên, từ ngày 1/1/2009 (chính thức thực hiện Luật Thuế TNCN), cá nhân chuyển nhượng bất động sản có hợp đồng có công chứng hoặc không có hợp đồng, chỉ có giấy tờ viết tay đều phải nộp thuế TNCN cho từng lần chuyển nhượng.
 
Theo Tài chính điện tử
 

  Xem theo ngày : 
Copyright 2007 - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VCCorp).
Tầng 16,17,18 - Toà nhà VTC online
Số 18 Tam Trinh, HBT, Hà Nội
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet số 1084/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 16 tháng 4 năm 2014.
Ban biên tập CafeF, Tầng 18, tòa nhà VTC Online.
Số 18 Tam Trinh, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: 04-39743410 Máy lẻ 295. Fax: 04-39744082
Email: info@cafef.vn - Đường dây nóng: 0922 096 886
Ghi rõ nguồn "CafeF" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
 
Liên hệ quảng cáo: Ms. Hương
Mobile: 0934 252 233
Email: doanhnghiep@admicro.vn
Hỗ trợ & CSKH : Ms. Thơm
Mobile: 01268 269 779
 
Thỏa thuận chia sẻ nội dung