Trước đây khi doanh nhân David Lin đến từ Đài Loan tiếp nhận
một nhà máy chế biến gỗ cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 1 giờ lái xe, anh cho
rằng nhà máy sẽ nhanh chóng
kiếm được tiền nhờ đội ngũ lao động giá rẻ của Việt Nam. Trước đây, nhà máy mang lại doanh thu 6 triệu USD/năm.
Câu chuyện trên diễn ra vào năm 2003. Nay, anh Lin, khi đã
32 tuổi, đang tìm hướng đầu tư sang nhiều nước châu Á khác. Anh đang chứng kiến
tình trạng lợi nhuận sụt giảm bởi công nhân liên tục đòi tăng lương.
Lạm phát tại Việt Nam tăng cao, chi phí đội lên,
nguồn thu nhập của những công ty nội thất mua gỗ từ nhà máy do anh Lin sản xuất
sụt giảm. Yuan
Chang Industry Vina Co (công ty của anh Lin) bắt đầu thiệt hại về tài chính. Anh Lin cân nhắc chuyển
đến một nước Nam Á và tính chuyện bán quyền thuê nhà máy rộng 35 nghìn mét
vuông và ra đi. Anh nói: “Địa điểm tiếp theo có thể sẽ là Bangladesh hoặc
Ấn Độ".
Hoạt động tại nhà máy của anh Lin vẫn tiếp diễn. Anh Lin cho rằng công nhân khu vực Nam Á nói tiếng Anh tốt hơn công nhân Việt Nam và họ làm việc chăm chỉ hơn: “Chẳng ai muốn nói
đến điều này, thế nhưng công nhân liên tục đòi tăng lương là thực tế chúng tôi đang đối mặt. Chủ doanh nghiệp chẳng
còn cách nào khác để giải quyết vấn đề tại Việt Nam nên đành chấp nhận “sống chung với
lũ” thôi.”
Trước đây giới điều hành doanh nghiệp nước ngoài thường nhắc
đến Việt Nam
khi họ nói đến việc tránh đi tình hình chi phí tăng quá cao tại “công xưởng thế
giới” Trung Quốc. Thế nhưng từ năm 2008, mọi chuyện cũng dần khác. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cam kết đầu tư trực tiếp vào
Việt Nam
giảm xuống 14,7 tỷ USD, từ 19,9 tỷ USD năm 2010. Đầu tư thực tế giảm 35% xuống
11,5 tỷ USD trong năm 2011.
Hàng nghìn công ty nước ngoài đã khởi động hoạt động kinh
doanh tại Việt Nam
từ khi kinh tế mở cửa vào năm 1987. Nay khi tình hình khó khăn, một lượng không
đếm xuể các doanh nghiệp đã âm thầm ra đi, số khác đang cố gắng chống chọi chờ
tình hình sẽ đổi khác. Công ty nghiên cứu thị trường TNS (Anh) nhận xét tình hình khó khăn đã khiến không ít người
Việt Nam
không còn có đủ khả năng mua hàng xa xỉ nữa.
Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
còn gặp nhiều vấn đề khó khăn hơn khác như đường sá, cơ sở hạ tầng các khu công
nghiệp bẩn và ở trong tình trạng không tốt khiến hoạt động vận chuyển hàng hóa
gặp khó khăn. Điện có khi còn bất ngờ bị cắt.
Ông Tai Hui, trưởng bộ phận nghiên cứu khu vực Đông Nam Á
của ngân hàng Standard Chartered, nhận xét: “Khó khăn trong đầu tư vào Việt Nam
cũng không khác gì so với nhiều thị trường mới nổi khác, còn khó khăn về thể
chế, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, hệ thống tài chính chưa thực sự phát triển.
Thế nhưng từ năm 2007, Việt Nam
chịu tác động nặng nề từ lạm phát cao, tiền đồng mất giá và nguồn cung USD hạn
chế.” Theo báo cáo thường niên năm 2012 của Ngân hàng Thế giới về môi trường
kinh doanh, Việt Nam đứng thứ 98/183 nước, thấp hơn 11 bậc so với năm 2008.
Ông Bruce Lee, giám đốc công ty thiết bị Elma Vietnam
Industrial, nói: “Nếu bạn hỏi tôi bây giờ có nên đến Việt Nam không, tôi
sẽ nói không". Nếu nhìn qua thì dường như giá cả tại Việt Nam rẻ nhưng
giá cả tăng nhanh và thị trường nội địa không phát triển nhiều. Tuy nhiên ông
cũng không khuyên đầu tư vào thị trường Trung Quốc, ngoại trừ một số tỉnh ở
miền Tây Trung Quốc.
Những công ty bán hàng giá rẻ như quần áo cho người tiêu
dùng Việt Nam
có thể sẽ vẫn kinh doanh có lãi và những nhà máy ở khu vực xa xôi có sẵn đội
quân lao động sẵn sàng làm việc gần nhà. Nhiều doanh nhân khác sẽ vẫn trụ lại
bởi họ tin Việt Nam vẫn giữ cho môi trường kinh
doanh ổn định. Chính phủ Việt Nam
đã giảm bớt hàng rào thuế quan và mở rộng lĩnh vực ngân hàng. Ngân hàng Nhà
nước còn hạ lãi suất, doanh nghiệp sẽ tiếp cận vốn dễ dàng hơn.
Trong khi nhà đầu tư từ một số nước khác giảm mạnh đầu tư
vào Việt Nam trong năm 2011, nhà đầu tư Hồng Kông quan tâm nhiều hơn đến Việt
Nam và nhà đầu tư Nhật vẫn giữ nguyên quan điểm. Các công ty sản xuất Nhật đang
tìm kiếm một cơ sở sản xuất mới sau khi động đất và sóng thần tại Nhật cũng như
lũ lụt tại Thái Lan tác động xấu đến sản xuất của Nhật. Năm 2011, lượng vốn đầu
tư mà nhà đầu tư Nhật cam kết dành cho Việt Nam cao thứ 2, khoảng 2,44 tỷ USD
(cao hơn so với mức 2,40 tỷ USD năm 2010), chỉ thấp hơn so với Hồng Kông.
Ngọc Diệp