Ngày 23/12, Thủy điện Sơn La hòa lưới quốc gia sau
hàng thập kỷ khảo sát, nghiên cứu và thi công xây dựng. Với vốn đầu tư
hơn 60.000 tỷ đồng, Sơn La để lại nhiều dấu ấn với kỷ lục về hồ chứa
nước lớn nhất, công trình to nhất, hoàn thành kế hoạch sớm nhất.
Trao đổi với VnExpress.net, một lãnh đạo của
Tập đoàn Điện lực Việt Nam khẳng định, với công suất 2.400 MW một năm,
trước mắt nhà máy thủy điện Sơn La có thể gánh được phần nào tình trạng
thiếu điện. Năm 2012 thủy điện Sơn La hòa lưới sẽ không còn tình trạng
thiếu điện và đến năm 2013 điện cũng sẽ đủ.
"Công suất khả dụng hiện có của Việt Nam đạt khoảng
trên 18.000 MW, năm sau cần thêm 2.100 đến 2.700 MW. Như vậy công suất
2.400 MW của Thủy điện Sơn La có thể đáp ứng được", vị lãnh đạo này nói.
Tuy nhiên do nhu cầu điện mỗi năm tăng khoảng 12-15%
mỗi năm, trong khi đó công suất nhà máy Sơn La không thay đổi nên về lâu
dài "khó có thể khẳng định sẽ không còn tình trạng thiếu điện". "Do vậy
cần tiếp tục đầu tư và tăng cường sử dụng tiết kiệm mạnh để tránh tình
trạng nhu cầu tiêu thụ điện năng lên quá cao", ông nói.
Vấn đề quan tâm lớn nhất với Thủy điện Sơn La đó là an
toàn của hệ thống đập trong trường hợp động đất, khi mà Sông Tranh II
đang gây nhiều lo lắng cho người dân quanh nhà máy. Câu chuyện này cũng
từng gây tranh cãi trước khi Chính phủ và Quốc hội thông qua chủ trương
triển khai đầu những năm 2000.
Theo Hội đồng Nghiệm thu nhà nước các công trình xây
dựng, hồ sơ thiết kế kỹ thuật công trình thủy điện Sơn La đã được 2 đơn
vị tư vấn có kinh nghiệm là Công ty Tư vấn Đại học Xây dựng và Công ty
Tư vấn Nippon Koei (Nhật Bản) thẩm tra điều kiện địa chất công trình,
thiết kế kết cấu thân đập, thiết kế thủy lực, đánh giá vật liệu bê tông
đầm lăn... Riêng về thiết kế kháng chấn, đơn vị tư vấn thiết kế đã sử
dụng số liệu động đất cấp 9 ứng với chu kỳ lặp 10.000 năm để tính
toán.
| Trước đó, Sơn La gây nhiều tranh cãi về vấn đề động
đất, vỡ đập. Chính phủ, trước sự phản đối quyết liệt của giới khoa học
với phương án Sơn La cao (265 m) như tính không an toàn, không an ninh
và ảnh hưởng nghiêm trọng môi sinh, đã thống nhất chọn Sơn La thấp
(210-215 m) nhằm mang lại hiệu quả kinh tế năng lượng, chống lũ, điều
tiết nước cao hơn. Sau nhiều lần họp, Quốc hội thông qua dự án thủy điện
sơn La thấp nhưng tiếp tục điều chỉnh mực nước dâng, từ 210-215 m xuống
còn 205-215. |
Trao đổi với VnExpress.net, PGS-TS Cao Đình
Triều, chuyên gia Viện Vật lý địa cầu cho rằng: "Kịch bản động đất ở Sơn
La sẽ không xảy ra như ở Sông Tranh 2".
Động đất năm 1983 ở gần khu vực dự kiến xây Sơn La
khiến công trình lớn nhất Đông Nam Á đặc biệt lưu tâm về vấn đề an toàn
đập thủy điện trước khởi công. Nhưng ông Triều tin tưởng cho rằng các
nguy cơ có thể được cảnh báo sớm nhờ Sơn La ngày nay đã lắp đặt hệ thống
quan trắc từ trước, điều mà Thủy điện Sông Tranh 2 chỉ thực hiện sau
các vụ động đất liên tiếp ngày 19/10 vừa qua.
Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, Trần Viết Ngãi
cũng đồng tình cho rằng không có gì đáng lo ngại khi vận hành Thủy điện
Sơn La. "Chỉ cần theo dõi đập và trạm quan trắc để đề phòng chống động
đất kích kích. Ngoài ra, cần lưu ý quy trình xã lũ cũng như quy trình
chống hạn. Làm tốt hai điều này, công trình đảm bảo an toàn", ông nói.
Tuy nhiên, theo ông Triều, Thủy điện Sơn La vẫn phải
tiếp tục nghiên cứu động đất kích thích và "không nên chủ quan". Ông
Triều nhấn mạnh trên hệ thống Sông Đà có nhiều nhà máy thủy điện lớn
được xây dựng đúng theo quy hoạch bậc thang như Hòa Bình, Sơn La, Lai
Châu... Bởi vậy, vấn đề quan trọng là phải điều tiết nước trên hệ thống
tốt, đặc biệt quan tâm đến việc điều tiết vận hành cụm công trình trên
một dòng sông đã có nhiều nhà máy thủy điện.
"Cần phải có hệ thống điều hành liên hoàn đập để đề
phòng trường hợp xấu nhất là vỡ đập tầng trên. Thảm họa vỡ đập ở Bản
Kiều của Trung Quốc đã từng xảy ra là một kinh nghiệm xương máu cho
nhiều quốc gia. Cần có hệ thống điều tiết liên hoàn hồ chứa đập để có
cái nhìn tổng thể về quy hoạch bậc thang của cả sông Đà", ông Triều phân
tích.
 |
| Thủy điện Sơn La hòa lưới sớm hơn kế hoạch 3 năm. Ảnh: Kiên Trung |
Thảm họa vỡ đập ở Bản Kiều của Trung Quốc đã từng xảy
ra là một kinh nghiệm xương máu cho nhiều quốc gia. Năm 1975, 62 đập
nước, đặc biệt là con đập trên, vỡ tan sau trận siêu bão ở thành phố Trú
Mã Điếm thuộc tỉnh Hà Nam (Trung Quốc) trở thành thảm họa công trình
xây dựng lớn nhất lịch sử thế giới. Ảnh hưởng của bão khiến những trận
mưa lớn kéo dài, làm mực nước ở vùng thượng lưu của các con sông trong
vùng nhanh chóng dâng cao, gây sức ép lên các hồ chứa nước và dần biến
thành lũ lớn. Con đập ở trên cao vỡ tan tạo ra cơn đại hồng thủy phá hủy
hoàn toàn đập Bản Kiều.
Theo ông Triều việc đánh giá biến động môi trường của
lưu vực Sông Đà cũng cần phải theo dõi thường xuyên để có một đánh giá
về đập liên hoàn cũng như hiện tượng xã lũ để có phương án ứng cứu khẩn
cấp khi xảy ra hiện tượng vỡ đập.
"Đập cao khi bị vỡ sẽ giống như lũ quét, bởi vậy khi
vận hành không nên đơn lẻ mà phải nghiên cứu đến từng hệ thống. Cần theo
dõi tai biến địa chất liên quan như động đất kích thích, nứt sụt đất,
trượt lở đất", ông Triều khuyến cáo.
Theo Hoàng Lan
VnExpress