Dòng sự kiện Vinalines
Theo
ông, đâu là nguyên nhân khiến các Tập đoàn Nhà nước như Vinashin, Vinalines mắc
những sai phạm nghiêm trọng đến vậy?
- Sai phạm của các doanh nghiệp này là sự thất bại của
kiểm soát nội bộ. Nhìn suốt một chiều dài lịch sử, cải cách doanh nghiệp Nhà nước
liên tục đổi mới mô hình hoạt động, từ ngày xưa là xí nghiệp liên hợp rồi tổng
công ty 91, tổng công ty 90 và sang tập đoàn... Tuy nhiên, kết quả là chẳng mấy
thành công. Như vậy, có gì đó chưa trúng về phương pháp luận.
-
Ông cho cho rằng chính các doanh nghiệp Nhà nước kém năng lực?
- Năng lực kém chỉ là lỗi phái sinh. Lỗi chính là do
hệ thống của mình thiếu kiểm soát. Việc chọn đóng tàu, phát triển vận tải biển
là một chiến lược đúng. Tuy nhiên, hai "Vina" đã thực hiện chưa đúng
chiến lược đó. Nói một cách khác, chiến lược đúng, nhưng chiến thuật thì sai.
Còn ngoài ra, không ai kém cả. Nếu hệ thống tốt thì
không thể có người kém vào đó được. Chưa cần nói họ dốt hay giỏi, cứ không đạt
yêu cầu thì đương nhiên sẽ bị bãi nhiệm ngay. Người nào làm tốt sẽ được tưởng
thưởng xứng đáng. Ngược lại, không tốt thì bị thay thế. Hiện nay không thiếu
người giỏi để làm việc này.
Vấn đề là chưa có cơ chế và động lực hợp lý để thu
hút được người có năng lực, vừa tạo điều kiện thuận lợi vừa buộc họ phải nỗ lực
tối đa vì lợi của của doanh nghiệp và của chủ sở hữu.
Là
người từng theo dõi sát sao vấn đề doanh nghiệp Nhà nước, ông thấy mức độ và
quy mô sai phạm của các tập đoàn Nhà nước hiện nay khác trước như thế nào?
- Trước đây, những vụ án như này không nhiều vì số
lượng giao dịch ít, quy mô giao dịch cũng nhỏ, hơn nữa khi đó Nhà nước lại kiểm
soát chặt, cái gì cũng phải xin. Giờ thì quy mô lớn, thị trường mở, quan hệ dọc
ngang nhiều, giao dịch rất lớn trong khi hiện nay cơ quan kiểm soát lại tinh gọn
hơn nên càng khó kiểm soát so với trước đây.
Vậy Nhà nước nên kiểm soát như thế nào để
không xảy ra những sai phạm lớn tại các tập đoàn chủ chốt như Vinashin,
Vinalines?
- Có nhiều việc phải làm. Tuy vậy, liên quan đến
nâng cao hiệu lực của kiểm soát, thì vấn đề là phải thiết lập thể chế bảo đảm
cân bằng giữa duy trì quyền kiểm soát của chủ sở hữu và quyền tự chủ kinh doanh
của doanh nghiệp. Do bất đối xứng thông tin và không có đủ nguồn lực, nhà nước
với tư cách là chủ sở hữu khó có thể duy trì được quyền kiểm soát đầy đủ và có
hiệu lực đối với những người quản lý doanh nghiệp.
Vì vậy, phải đề cao vai trò của kiểm soát từ bên
ngoài, của các bên có liên quan ở ngoài doanh nghiệp (như các nhà đầu tư hiện tại
và tiềm năng, các chủ nợ, các nhà cung ứng và bạn hàng, đối thủ cạnh tranh, các
chuyên gia tư vấn và phân tích thị trường...). Một việc nữa là phải sử dụng cơ
chế kiểm soát, giám sát bên ngoài để bổ sung cho giám sát bên trong của chủ sở
hữu. Để làm được điều này, thì công khai thông tin, minh bach hóa quản lý là điều
không thể thiếu.
Như New Zealand, Chính phủ thuê cho một công ty tư
nhân chuyên làm công việc kiểm soát, giám sát và đánh giá doanh nghiệp Nhà nước.
Tinh thần của họ là lấy khu vực tư nhân giám sát khu vực Nhà nước. Công ty tư
nhân này chỉ có vài chục nhân viên. Những bài học kinh nghiệm đó rất đáng được
tham khảo tại Việt Nam.
Nhiều đại biểu Quốc hội đang đề nghị buộc
doanh nghiệp Nhà nước công bố thông tin minh bạch như một công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán, ông nghĩ sao?
- Rõ ràng, việc buộc các tập đoàn, tổng công ty phải
công bố thông tin theo chuẩn mực tối thiểu tương tự các công ty niêm yết là hết
sức cần thiết. Việc này không nên trì hoãn. Cá nhân tôi coi đó là giải pháp đột
phá trong cải cách, tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Không những phải
công bố thông tin nhiều hơn mà những chuẩn mực đối với doanh nghiệp Nhà nước
còn phải cao khắt khe hơn nhiều với công ty niêm yết. Vì trên thị trường chứng
khoán, cùng lắm chỉ có vài trăm nghìn cổ đông. Ngược lại, doanh nghiệp Nhà nước
là sở hữu toàn dân, của quảng đại quần chúng.
Theo Thanh
Thanh Lan
VnExpress