TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngành than kêu khó vì tăng thuế môi trường

Ngành than kêu khó vì tăng thuế môi trường
Tiêu thụ than nửa đầu năm nay gặp khó khăn hơn dự kiến.

Nhu cầu khoáng sản trên thị trường thế giới chậm được cải thiện, giá tăng chậm, cùng với tiêu thụ trong nước thấp hơn nhiều so với dự kiến đã ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động của ngành than trong nửa đầu năm nay. Đặc biệt, việc thuế môi trường sắp tăng thêm 3% - 5% kể từ 1-7 tới sẽ khiến ngành than đương đầu với khó khăn hơn nữa.

Theo Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV), doanh thu toàn tập đoàn trong 5 tháng ước đạt 40.386 tỷ đồng, chỉ đạt 37% kế hoạch năm và thấp hơn 4% so với cùng kỳ năm ngoái. Than tiêu thụ chỉ đạt 40% kế hoạch năm, ở mức 14,709 triệu tấn, thấp hơn 7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông Nguyễn Văn Biên – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn cho biết, tình hình năm nay diễn biến khó khăn hơn dự đoán do kinh tế thế giới chưa phục hồi như mong đợi, tiêu thụ trong nước cũng giảm. Dự kiến đến hết tháng 6, TKV sẽ tiêu thụ được khoảng 18 triệu tấn, xấp xỉ 50% kế hoạch năm nay và thấp hơn kỳ vọng do tiêu thụ của các hộ tiêu dùng lớn trong nước như nhiệt điện, xi măng, phân bón đều thấp.

Đặc biệt, với xi măng, do tìm được một số nguồn than trên thế giới phù hợp với mức giá cạnh tranh hơn, các DN xi măng đã tăng cường việc xuất khẩu clinke kết hợp nhập khẩu than để sử dụng, ảnh hưởng đến tiêu thụ của TKV khoảng 500.000 – 1.000.000 tấn. Giá than trên thị trường thế giới phục hồi chậm hơn so với giá dầu, chỉ nhích nhẹ lên 5-6 USD/tấn. 5 tháng đầu năm nay, TKV đã xuất khẩu 125 nghìn tấn và nhập khẩu 630 nghìn tấn.

TKV cho biết tình hình sẽ còn khó khăn hơn trong những tháng cuối năm, đặc biệt khi thuế tài nguyên sẽ tăng vào 1-7 tới. Cụ thể, thuế đối với than lộ thiên sẽ tăng từ 9% lên 12%, than hầm lò tăng từ 7% lên 10%.

Theo ông Nguyễn Văn Biên, với việc tăng thuế, tổng số chi phí của TKV sẽ tăng 1.300 - 1.500 tỷ/năm, tuỳ theo sản lượng. Đây là một thách thức mới mà ngành than phải đối mặt. Cân đối tài chính của tập đoàn đã khó khăn, sẽ khó khăn hơn.

“So sánh với Úc, thuế tài nguyên đối với than lộ thiên của họ là 7%, chúng ta là 12%; thuế với than hầm lò là 5%, còn chúng ta cao gấp đôi. Điều này cũng tác động đến sức cạnh tranh của các nguồn than, cùng điều kiện khai thác, cùng chất lượng, thuế suất đã khác nhau như vậy rồi. Đó là khó khăn của chúng tôi trong cạnh tranh.

Tập đoàn đã báo cáo và sẽ tiếp tục báo cáo các cơ quan Nhà nước để xem xét những chính sách để DN vượt qua giai đoạn khó khăn”, ông Biên khẳng định. Đại diện lãnh đạo TKV cũng cho biết họ đã và đang áp dụng các biện pháp tái cơ cấu, cơ giới hoá, nâng cao năng suất, tiết kiệm chi phí, nhưng sức cạnh tranh còn phụ thuộc vào chính sách.

Năm 2016, TKV phấn đấu vẫn sẽ có lãi, nhưng phải điều hành sản xuất không đạt mức kế hoạch, vì thuế cao thì một số khu vực khó khai thác sẽ phải xem xét lùi lại để giá cả thị trường lên chịu đựng được mới khai thác tiếp. Dù khẳng định đây là bài toán chung của ngành khoáng sản thế giới, cân đối lựa chọn mô hình khai thác, nhưng đại diện TKV cũng cho rằng nếu cứ tăng mãi thuế thì cũng sẽ ảnh hưởng đến việc khai thác tài nguyên một cách hiệu quả theo nghĩa tận dụng tối đa tài nguyên. Thuế quá cao sẽ hạn chế việc tận thu các khu vực điều kiện khai thác khó khăn.

Đại diện TKV cho biết từ nay đến cuối năm vẫn phải chuẩn bị các giải pháp để duy trì sự ổn định, việc làm cho công nhân cũng như an toàn về tài chính, nhưng ở mức tối thiểu. Với thực tế lợi nhuận không còn nhiều, nguồn lực đầu tư cho dài hạn sẽ bị ảnh hưởng. Trả lời về sức cạnh tranh của than Việt Nam so với thế giới, ông Nguyễn Văn Biên khẳng định than nội địa vẫn chiếm 1 tỷ trọng quyết định cho tất cả các hộ sử dụng trong nước trong ngắn hạn, và về lâu dài vẫn chiếm tỷ trọng lớn.

“Hiện tuy có một số nguồn than khác, nhưng với khối lượng ổn định, lớn, dài hạn thì chắc chắn than của TKV vẫn là sự lựa chọn số 1 hiện nay của các khách hàng”. Tuy nhiên, để nâng cao sức cạnh tranh, giảm chi phí, TKV cho biết hiện đang tập trung vào hoàn thiện tổ chức sản xuất, đặc biệt có giải pháp tăng năng suất, giảm lao động khâu phụ trợ, phục vụ, cơ giới hóa… TKV đã cơ giới hóa lò chợ của mỏ Hà Lầm đạt công suất cao nhất hiện nay nay (600.000 tấn/năm, so với trước đây các lò chợ chỉ đạt 150.000 – 200.000 tấn/năm).

Các lò chợ tiếp theo được cơ giới hoá khác của Công ty Than Khe Chàm, Dương Huy, Hồng Thái, Quang Hanh cũng đã được đưa vào hoạt động, góp phần tăng năng suất, cải thiện điều kiện làm việc cho thợ lò. TKV cũng phấn đấu tiếp tục đảm bảo việc làm và đời sống cho người lao động không giảm so với năm ngoái, đặc biệt là đời sống của thợ lò.

Theo Thanh Hân

Công an nhân dân