TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ba nghịch lý trong điều hành thị trường tiền tệ

02-05-2008 - 07:32 AM | Tài chính - ngân hàng

Ba nghịch lý trong điều hành thị trường tiền tệ

Có thể nói chính sự bất cập trong chỉ đạo và kiểm soát hoạt động của các ngân hàng đã, đang và sẽ còn là một trong những nguồn phát tán các xung lực lạm phát năm 2008

Thứ nhất, chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối làm cho đồng tiền Việt Nam bị định giá quá cao khiến hàng xuất khẩu trở nên đắt đỏ, nhập siêu tăng vọt và nghẽn mạch lưu thông tiền tệ...

Trên thực tế cần có sự điều chỉnh tỷ giá theo hướng giảm giá trị tiền đồng Việt Nam (VNĐ) từ những năm trước, chậm nhất là phải từ năm 2006, trước khi Việt Nam gia nhập WTO, hoặc chí ít cũng phải kịp thời phá giá VNĐ theo mức độ mất giá thực tế của đô la Mỹ (USD) thì tình hình tỷ giá đã được cải thiện, làm tăng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam, từ đó kéo theo nhiều hệ quả tích cực khác.

Hơn nữa, sự bất cập trong điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong thời gian gần đây còn thể hiện ở chỗ, một mặt, NHNN chỉ đạo bắt buộc các ngân hàng thương mại chỉ được mua vào USD đang dồi dào với giá sàn đắt đỏ hơn nhiều giá trên thị trường để duy trì tỷ giá VNĐ danh nghĩa theo mục tiêu được biện hộ là duy trì sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu.

Mặt khác, NHNN lại không chịu mua lại số USD này dù theo giá sàn chỉ đạo trên, khiến các ngân hàng thương mại “chê” USD (điều chưa từng có trong nhiều thập kỷ qua ở nước ta, khi mà NHNN thường buộc các nhà xuất khẩu và tổ chức kinh tế bán lại USD cho mình và ra sức chống lại nạn đô la hóa), xuất hiện tình huống thực tế đầy nghịch lý là lạm phát cao, trong khi các nhà đầu tư nước ngoài khan hiếm VNĐ và dư thừa USD, còn dự trữ ngoại tệ quốc gia cũng chưa phải thực sự vững chắc.

Tình hình này đang là thách đố lớn mà NHNN chưa tìm ra lời giải thỏa đáng, trong khi kinh nghiệm của Trung Quốc là rất đáng tham khảo...

Thứ hai, chính sách lãi suất tiền gửi thực âm khiến đồng tiền Việt Nam bị coi rẻ và kéo dài nạn dư thừa tiền trong lưu thông, trong khi các ngân hàng mất tính thanh khoản và hoạt động cho vay bị ngưng trệ...

Một trong những nguyên tắc cơ bản và phổ biến của đơn thuốc chống lạm phát là thực hiện lãi suất thực dương, tức lãi suất tiền cho vay cao hơn lãi suất tiền huy động và lãi suất huy động phải cao hơn mức lạm phát. Tuy nhiên, dù buộc phải vào cuộc chống lạm phát, trong cả hai năm 2007 và 2008 các ngân hàng ở Việt Nam chỉ bảo đảm lãi suất tiền cho vay cao hơn hẳn lãi suất huy động, còn lãi suất huy động lại thấp hơn nhiều so với mức lạm phát.

Thậm chí, lo ngại sự đảo chiều của các dòng tiền gửi, nhất là việc một số ngân hàng thương mại nhà nước bị các ngân hàng khác cạnh tranh hút bớt khách gửi tiền, NHNN còn chính thức ra thông báo yêu cầu các ngân hàng thương mại phải triệt để áp dụng trần lãi suất huy động là 12%/năm, trong khi mức lạm phát trên thực tế cùng thời điểm là 16-18%, hơn nữa lại cho phép thả nổi trần lãi suất cho vay.

Kết quả là dư lượng tiền thừa trong lưu thông vẫn quá nhiều, trong khi nhiều ngân hàng không huy động đủ tiền mặt để bảo đảm tính thanh khoản và cho vay cần thiết.

Thứ ba, về tổng thể, các hoạt động tín dụng chạy theo bề rộng khiến lạm phát gia tăng, nền kinh tế chịu nhiều thiệt hại, trong khi các ngân hàng lãi cao ngất ngưởng...

Làn sóng thành lập các ngân hàng mới, đua nhau tăng vốn điều lệ và phát hành các loại chứng khoán mới được thổi giá lên cao ngất ngưởng một cách thiếu minh bạch, sự gia tăng các hoạt động cho vay chéo, đầu tư đa ngành mang nặng tính đầu cơ và mở rộng tín dụng theo bề rộng trước sức ép thu lợi nhuận cơ hội... đã tạo ra những xung lực cực mạnh làm gia tăng tổng phương tiện lưu thông, thúc đẩy vòng xoáy tăng giá - lạm phát trong thời gian gần đây ở nước ta.

Hơn nữa, trong khi thoải mái “mua rẻ - bán đắt” các nguồn vốn đang dồi dào của xã hội thông qua vay tín dụng với lãi suất thấp, còn cho vay với lãi suất cao, các ngân hàng đã lãi lớn trong năm 2007, rồi sang năm 2008 lại nhân danh chống lạm phát để thu lợi nhuận kếch sù từ chênh lệch lãi suất vay và cho vay, cũng như từ chênh lệch giá ảo với giá thực khởi điểm của các chứng khoán ngân hàng và cả từ nguồn thu phí dịch vụ kinh doanh chứng khoán các loại được tung ra ào ạt, được giao dịch thiếu kiểm soát lành mạnh trên thị trường tài chính trong nước...

Bằng chứng hiển nhiên của việc này là cuộc “săn đầu người” với mức lương hấp dẫn và vượt trội trong khu vực ngân hàng và các báo cáo tài chính của hầu hết ngân hàng trong thời gian qua đều rất lạc quan, với các khoản lợi nhuận sau thuế khổng lồ lên tới hàng trăm, ngàn tỉ đồng.
 
Nói cách khác, ngân hàng là người hưởng lợi lớn nhất và hiếm hoi nhất từ lạm phát trong khi cả người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế đều lao đao và bất ổn vì lạm phát. Hơn nữa, việc cho vay thiếu bảo đảm hoặc cho vay mang tính đầu cơ cao trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản và chứng khoán, cũng như các kỹ năng nghiệp vụ hạch toán “lãi giả - lỗ thật” trong hoạt động tín dụng nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, hiệu quả thì rất dễ tạo ngòi nổ nhạy cảm cho các chấn động và đổ vỡ tài chính trong tương lai.
 
Theo T.S Nguyễn Minh Phong
KTSGonline

tramy

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên