- Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng hiện nay khá cao, theo ông là do đâu?
- Điều này bắt nguồn từ phương pháp tính nợ của Việt
Nam. Theo quy định, xác định, phân loại nợ dựa vào 2 tiêu chí là định
tính và định lượng. Về định lượng, có văn bản quy định rõ quá hạn bao
nhiêu thì là nhóm 2, nhóm 3, 4, và 5. Các tiêu chí định lượng được quy
định rõ, trong khi định tính chưa nêu đích danh, mà lại tùy thuộc từng
ngân hàng.
Còn trên quốc tế, các ngân hàng đánh giá nợ đều dựa
vào định tính khá nhiều. Chẳng hạn, công ty bất động sản vay vốn, khi
thị trường nhà đất đi xuống, ngân hàng có thể xếp hạng thấp hơn nếu giá
trị tài sản bảo đảm là bất động sản hình thành từ vốn vay bị giảm thiểu
nghiêm trọng.
Ngoài ra, chuyện chậm trễ nộp báo cáo tài chính cũng
được xem là không đáp ứng được những cam kết của ngân hàng, là đánh tụt
hạng nợ ngay. Dù các cơ quan chức năng quản lý ngân hàng nước ngoài
không đưa những chỉ tiêu cụ thể về định tính, nhưng các ngân hàng nuớc
ngoài tự định nghĩa những chỉ tiêu định tính rất rõ rệt và sử dụng những
chỉ tiêu này trong việc xếp hạng tín dụng cho các món nợ của ngân hàng
mình.
- Vậy theo ông, tại Việt Nam, có nên hình thành bộ tiêu chí đối với phương pháp định tính hay không? - Tất nhiên điều này là cần thiết. Vì chỉ tiêu định
lượng nói riêng và một hệ thống các chỉ tiêu xếp hạng tín dụng nói chung
mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang dùng khác xa với thông lệ quốc tế.
Cùng với định lượng, các chỉ tiêu định tính sẽ giúp ngân hàng chẩn đoán
được sức khỏe của người đi vay chính xác hơn.
Chẳng hạn, khách hàng tốt và tiềm năng song vì vấn đề
nào đó lại bị tụt hạng tín nhiệm sẽ được xem xét. Còn trường hợp một số
doanh nghiệp khác rất yếu kém nhưng tìm cách đảo được nợ, nhờ cá nhân,
công ty khác trả nợ cho mình thì các ngân hàng nên cẩn thận. Trong
trường hợp này, nội tại đã yếu kém, món nợ trên là nợ xấu rồi, nhưng vì
được trả đúng hạn nên đựoc xem là nợ bình thường, và có thể dẫn đến
những thẩm định và đánh giá sai lầm về người đi vay.
Thứ hai nữa, định tính cũng sẽ giúp cho tính chính xác
trong quản lý rủi ro của ngân hàng, hạn chế sự thiếu minh bạch của sổ
sách.
Nếu áp dụng định tính, nợ cao sẽ phải dự phòng rủi ro
cao. Khi dự phòng không đúng, con số lợi nhuận có thể rất đẹp, nhưng
thực chất nó đang bị tác động mạnh bởi nợ xấu. Điều này có thể lý giải
một hiện tượng mà mọi người đang rất quan tâm là trong khi nợ xấu của
các ngân hàng tăng cao thì các báo cáo tài chính mới đây của họ cho thấy
ngân hàng đang lãi “khủng”. Hình như lãi “khủng” của hệ thống ngân hàng
đã bị “thổi” lên khi mà dự phòng rủi ro cho nợ xấu chưa được trích lập
đúng mức và vì thế những con số vê lợi nhuận tỏ ra rất đẹp.
- Nên quy định cụ thể về phương pháp này như thế nào cho hợp lý vì rõ ràng xác định bằng lượng đơn giản hơn bằng tính?
- Ngân hàng Nhà nước nên đưa ra khung để các nhà băng
dựa vào đó mà xác định các chỉ tiêu định tính. Khung này có thể là tổng
số nợ trên vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ này mà vượt quá 3 lần là có vấn đề, còn
trên 10 lần thì doanh nghiệp có nguy cơ phá sản. Ngân hàng có thể căn
cứ vào chỉ tiêu này cùng với những chỉ tiêu khác mà xác định cấp, hay là
để xếp hạng tín dụng. Trên thực tế, vốn chủ sở hữu không chỉ quan trọng
với ngân hàng, mà còn là gối đệm để doanh nghiệp có thể xử lý được rủi
ro. Khi đệm dầy thì khả năng chống rủi ro sẽ cao hơn là lẽ đương nhiên.
Ngoài ra, khung này có thể là tài sản thế chấp. Chẳng
hạn như một người đi vay, họ thế chấp bằng bất động sản, nhưng khi giá
bất động sản xuống thấp quá thì vô hình trung lại đem lại sự rủi ro cho
ngân hàng. Vấn đề quản lý, quản trị doanh nghiệp cũng nên xem xét đưa
vào khung định tính. Ví dụ, một doanh nghiệp thay đổi lãnh đạo quá
nhanh, quá nhiều lần, hay người trong ban điều hành không chấp hành
những mục tiêu mà hội đồng quản trị đề ra, hay hội đồng quản trị tê
liệt. Có thể Ngân hàng Nhà nước chỉ cần một quý là xây dựng được những
bộ chỉ tiêu này. Từ giờ đến cuối năm chỉ còn 6 tháng, nhưng cũng đủ thời
gian để đưa ra khung định tính.
- Những khó khăn gặp phải khi đưa ra khung định tính để xác định nợ xấu của ngân hàng là gì, thưa ông?
- Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp rất khác
biệt. Nhiều báo cáo không được kiểm toán độc lập, số liệu không minh
bạch, do đó, rất khó để đưa ra các tiêu chí chính xác. Cơ quan chức
năng, chủ quản, Bộ Tài chính cần siết lại những tiêu chí về báo cáo tài
chính, chỉ đích danh loại hình nào, công ty nào cần phải được kiểm toán
độc lập.
- Nợ xấu ngân hàng tăng, trong khi hiện nay, doanh
nghiệp đang chết mòn vì không có vốn để tái đầu tư. Cần phải giải bài
toán này như thế nào, thưa ông?
- Cần có một cầu nối do Nhà nước đứng ra làm, đó là
quỹ bảo lãnh tín dụng. Bên Mỹ, mô hình này đã có từ chục năm nay, gọi là
cơ quan tài trợ cho tiểu thương (Small Business Administration - SBA).
Mỗi năm, SBA được phê chuẩn một khoản ngân sách và cơ quan này dùng để
bảo lãnh cho các ngân hàng. Ngân hàng mạnh dạn dùng tiền cho tiểu thương
vay vì được bảo lãnh bởi SBA.
Bây giờ, một người kinh doanh bình thường tìm đến ngân
hàng, sẽ bị từ chối ngay, nhưng nếu vẫn anh này chạy đến SBA nói là
chúng tôi cần bảo lãnh của Chính phủ, thì nếu hội đủ một số điều kiện
của SBA sẽ được bảo lãnh để vay. Khi mà người vay không trả được nợ vì
lý do không bán được hàng, phá sản, vỡ nợ…, nhà băng sẽ trở lại SBA đòi
bồi thường. Việt Nam cũng có quỹ bảo lãnh tín dụng của BIDV, nhưng một
số thông tin cho biết số vốn khởi đầu chỉ hơn 200 tỷ đồng. Số này quá
nhỏ để bảo lãnh doanh nghiệp một cách đại trà.
- Vậy theo ông, nếu Việt Nam có một SBA, thì vốn cần có là bao nhiêu?
- Tôi tính toán, hiện dư nợ tín dụng toàn ngành khoảng
2,7 triệu tỷ đồng, tương đương với 135 tỷ USD. Để phục hồi kinh tế, hệ
thống ngân hàng phải bơm vào nền kinh tế khoảng 20% trong số này, nghĩa
là tăng trưởng tín dụng khoảng 28 tỷ đôla. Trong đó, tín dụng cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa khoảng một phần ba, cỡ 10 tỷ USD.
Quỹ bảo lãnh tín dụng không cần đến 10 tỷ đôla mà chỉ
cần khoảng 10% trong số này, là 1 tỷ USD, khoảng 20.000 tỷ đồng để sử
dụng như một dự phòng rủi ro. Theo mô hình này, quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ
không dùng tiền của mình để cho vay nhưng bảo lãnh ngân hàng để ngân
hàng cho vay bằng vốn huy động. Với cách này, Chính phủ sẽ là nguời thứ
ba làm cầu nối ngân hàng và doanh nghiệp gặp gỡ và hỗ trợ nhau.
| Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu có 32 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân
hàng tại Mỹ. Ông Hiếu từng là chủ ngân hàng đầu tiên của người Việt trên
đất Mỹ ra đời năm 2005 là First Vietnamese-American Bank. Vốn ban đầu
của ngân hàng là 15 triệu USD. Năm 2009, kinh tế Mỹ khủng hoảng, First
Vietnamese-American Bank đã bị bán cho Green Point Bank ở Los Angeles,
California, Hoa Kỳ. |
Theo Tuệ Minh - Tuấn Lân
Vnexpress