TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Cần nới lỏng chính sách tiền tệ

06-05-2008 - 09:24 AM | Tài chính - ngân hàng

Cần nới lỏng chính sách tiền tệ

Ngân hàng Nhà nước nên chuyển từ thắt chặt tiền tệ sang kiểm soát chặt chẽ, trước mắt là giảm dự trữ bắt buộc của các ngân hàng từ 11% xuống 8%.

Nhiều quốc gia thực thi chính sách tiền tệ theo chỉ số lạm phát cơ bản (là chỉ tiêu đo lường lạm phát đã loại trừ một số hàng hóa dễ bị biến động giá như nhiên liệu, năng lượng, điện năng, lương thực thực phẩm...; tức là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung đã loại trừ các yếu tố mùa vụ, thiên tai, dịch bệnh... thường tạo ra cú sốc về giá) để điều hành chính sách tiền tệ.

Việc tính chỉ số lạm phát cơ bản sẽ làm cho Ngân hàng Nhà nước (SBV) không lúng túng khi giải bài toán lãi suất vì những cú sốc về giá của các mặt hàng thiết yếu đã được loại bỏ khi tính lạm phát cơ bản (core inflation).

Lãi đầu vào so với CPI chung có hợp lý?

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã giảm lãi suất của quỹ liên bang (federal fund rate) còn 2%, thế nhưng lạm phát tại Mỹ đang ở mức cao, chỉ số lạm phát CPI (headline inflation) lên tới 4%, chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation) 2,4%.

Trong khi đó, lãi suất huy động của các ngân hàng tại Mỹ chỉ khoảng 2%-3%/năm. Tại Thái Lan, CPI 5,3%, lạm phát cơ bản 1,8%. Thế nhưng, ngân hàng trung ương quốc gia này điều hành lãi suất chiết khấu khoảng 3,25%. Bangkok Bank huy động vốn đồng baht (THB) với lãi suất ở mức khoảng 2,5%- 3%/năm.

Một số quốc gia khác như Canada, Philippines, Singapore... tình hình lạm phát và chính sách lãi suất cũng tương tự. Nếu so lãi suất đầu vào với CPI thì phải chăng FED và nhiều quốc gia đang điều hành chính sách lãi suất âm?

CPI của nước ta trong 4 tháng đầu năm 2008 là 11,6%, nhiều khả năng hết năm sẽ lên tới 15%- 20% trong điều kiện Chính phủ vẫn còn trợ giá xăng dầu, giá điện, than, sắt thép... Tuy nhiên, một trong những tác nhân làm CPI tăng cao là từ dầu thô, lương thực...

Trên thị trường quốc tế, giá dầu tăng do nguồn cung hạn chế, USD suy yếu; giá lương thực thực phẩm biến động do diện tích trồng trọt thu hẹp, dịch bệnh, không phải do cung tiền. Giá dầu thô được dự báo tiếp tục tăng, giá gạo có thể ổn định hoặc tăng lên nên Nhà nước không thể “dài hơi” bao cấp hai mặt hàng này.

Điều này sẽ đẩy CPI ở Việt Nam cao hơn 20%. Do đó, SBV điều hành chính sách lãi suất theo CPI chung sẽ không chính xác. Nếu lãi suất đầu vào trên 20% thì lãi suất cho vay sẽ ở mức không tưởng.

Lãi suất cao luôn chứa đựng nhiều rủi ro cho người vay. Doanh nghiệp không thể vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh doanh kém, công ăn việc làm giảm sút, thu nhập của dân cư giảm thấp, thất nghiệp gia tăng.

Người dân không tích lũy được tiền để gửi ngân hàng. Nền kinh tế sẽ suy giảm, thị trường chứng khoán, bất động sản... không có cơ hội hồi phục. Như vậy, tại Việt Nam chính sách lãi suất dương so với CPI chung là không hợp lý.

Giảm áp lực cung tiền qua thị trường mở

Hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh chững lại, dư nợ cho vay trong tháng 4 của các ngân hàng giảm mạnh cho thấy biện pháp thắt chặt tiền tệ bước đầu đã có tác dụng; tuy nhiên, thời điểm này cần phải nới lỏng.

Nếu chỉ có chính sách tiền tệ để chống lạm phát thì thắt chặt là đúng nhưng cạnh đó Chính phủ đã nhìn thấy không phải chỉ do yếu tố cung tiền mà còn có sự bội chi lâu dài của ngân sách trên 5% GDP và chi tiêu công không hiệu quả, vì vậy Chính phủ đã kiên quyết kiểm soát và cắt giảm chi tiêu công.

Nhưng chỉ số CPI vẫn ở mức cao còn do yếu tố đầu cơ, găm hàng làm giá. Các bộ ngành, chính quyền địa phương đã và đang tích cực chống hiện tượng này.

Như vậy, SBV đã có sự chia “lửa” từ các yếu tố khác. Vì thế, SBV nên chuyển chính sách tiền tệ từ thắt chặt sang kiểm soát chặt chẽ. Trước mắt là giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng từ 11% xuống 8%.

Điều này sẽ trả lại sự êm thấm cho thị trường tiền tệ, giảm bớt áp lực cung ứng tiền qua thị trường mở. Ngân hàng thương mại cũng giảm bớt hiện tượng lãi suất “đi đêm” để đối phó với việc bảo đảm dự trữ bắt buộc.

Khi đó các ngân hàng không còn cạnh tranh với nhau, tăng lãi suất đầu vào lên quá cao, tăng chi phí hoạt động của ngân hàng và lãi suất đầu ra sẽ tăng tương ứng. Nếu thắt chặt tiền tệ quá mạnh không khéo nước ta vừa có suy giảm kinh tế vừa có lạm phát cao do thiếu hàng.

* Nên sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản

Thông thường bên cạnh CPI, các quốc gia còn dùng chỉ số lạm phát cơ bản để điều hành chính sách lãi suất vì chỉ số lạm phát cơ bản phản ánh mức độ lạm phát trung thực hơn CPI (do CPI còn bị ảnh hưởng ngắn hạn những cú sốc về giá xăng dầu, lương thực). Những cơn sốt về dầu thô, thiên tai, dịch bệnh liên tục xảy ra làm cho giá cả hàng hóa tăng đột biến.

Vì vậy nếu dựa vào CPI để điều hành chính sách tiền tệ thì chưa phản ánh chính xác ở Việt Nam. Đã đến lúc Tổng Cục Thống kê sớm công bố chỉ số lạm phát cơ bản ở Việt Nam để SBV làm cơ sở điều hành chính sách tiền tệ. Ước tính chỉ số lạm phát cơ bản chỉ bằng 70% CPI.

Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân (Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia)
Người lao động

khanhhoa

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên