tin mới
X
+
-

Chính sách tiền tệ của Việt Nam không thể theo các nước khác

Nền kinh tế Viêt Nam có những diễn biến tương đối khác so với các nền kinh tế chủ chốt do đó việc điều hành CSTT cần có những khác biệt.

Mọi biệnpháp chính sách được đề ra đều dựa trên mục tiêu cuối cùng cần đạt được, nhữngdiễn biến thực tế và xu hướng trong tương lai.

Chính sách tiền tệ (CSTT) về mặtlý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy có tác động trễ đến các biến số kinh tếvĩ mô, nhưng mức độ và độ trễ bao nhiêu tùy thuộc vào những phản ứng thực tế củacác thành viên thị trường.

Đây là vấn đề cần được các nhà hoạch định CSTT quantâm.

Đánh giáchung để…

Trong bốicảnh toàn cầu hóa như hiện nay, CSTT của một quốc gia, nhất là quốc gia đangphát triển khó có thể tách khỏi xu hướng CSTT của các nước lớn.

Hiện nay, khủnghoảng tài chính, tín dụng ở Mỹ đã lan sang châu Âu, châu Á với sự phá sản và gặpkhó khăn tài chính của hàng loạt ngân hàng lớn. Danh sách các ngân hàng phá sản,gặp khó khăn và cầu cứu chính phủ ngày càng dài, từ Lehman Brothers, BearStearns, Merrill Lynch, Morgan Stanley của Mỹ cho đến Fortis của châu Âu.

Cùngvới đó là TTCK chao đảo, biến động tăng giảm với biên độ lớn (từ 5% đến10%), đồngUSD giảm giá so với hầu hết các ngoại tệ khác, giá vàng liên tục đảo chiều, giádầu đang ở mức kỷ lục trong 6 tháng đầu năm 2008, sau đó đảo chiều nhanh chóng,đến nay đứng ở mức giá thấp, dao động quanh 40 USD/thùng.

Trong bốicảnh đó, ngoài việc bơm vào thị trường hàng trăm tỷ USD, các nước lớn như Mỹ,Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu đều thực thi CSTT nới lỏng với việcngân hàng trung ương (NHTW) các nước này đồng loạt hạ lãi suất tiền gửi.

Cụ thể,FED đã hạ lãi suất Fund FED xuống còn 1% vào ngày 29/10/2008, NHTW Trung Quốcgiảm lãi suất tiền gửi từ 3,87% xuống còn 3,6%, NHTW Nhật Bản đưa lãi suất cơ bảnđồng yên xuống còn 0,3%, NHTW châu Âu giảm lãi suất euro xuống còn 3,25%...

NHTW củahầu hết các nền kinh tế chủ chốt thực hiện CSTT và tài khóa nới lỏng là xuấtphát từ tình hình hiện tại cũng như xu hướng sẽ diễn ra trong tương lai, đó là:

(i) Các nước này đã lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế: kinh tế Mỹ trong quýIII/2008 tăng trưởng âm (-0,5%), kinh tế châu Âu cũng tăng trưởng âm trong quýIII và dự báo tăng trưởng năm 2008 chỉ vào khoảng 1,4%, kinh tế Nhật Bản cũng rơivào suy thoái, kinh tế Trung Quốc có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại;

(ii) Bên cạnhđó thì xu hướng giảm phát cũng đã xuất hiện tại các nền kinh tế nói trên, xu hướngđó sẽ diễn ra mạnh mẽ nếu không có các biện pháp chính sách để ngăn chặn: Thựctế cho thấy, cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất ở Mỹ và kéo theo nó là khủng hoảngtài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu đã dẫn đến cú sốc cầu tiêu cực, làm chotăng trưởng giảm sút, có thể dẫn đến giảm phát vì những lý do sau đây:

Thứ nhất,khủng hoảng ở Mỹ dẫn đến sự giảm sút tổng cầu tương đối so với tổng cung vì dưthừa trên thị trường nhà đất, các hàng hóa lâu bền, ô tô và tiếp theo đó sẽ làthị trường dịch vụ và các hàng hóa khác.

Sự sụt giảm tổng cầu thường làm giảmáp lực lạm phát do các công ty buộc phải giảm giá bán để kích cầu và giảm hàngtồn kho do hàng hóa không bán được.

Những yếu tố làm giảm lạm phát này được thấyrõ trên thị trường nhà và ô tô, khi mà giá nhà đất giảm và các hãng ô tô đuanhau đưa ra các khuyến mãi giảm giá. Rõ ràng là, việc lạm phát có xu hướng giảmtrong suy thoái là hệ quả của sự sụt giảm tổng cầu.

Thứ hai,trong thời kỳ khủng hoảng của Mỹ, thị trường lao động bị ảnh hưởng lớn, ngườilao động mất việc hàng loạt, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao dẫn đến sự tăng chậm lạicủa tiền lương danh nghĩa, do đó, giảm giá nhân công, giảm chi phí nhân công vàgiảm áp lực lạm phát giá của nền kinh tế.

Thứ ba,các thị trường quốc tế đã đạt tới một mức độ hội nhập mà ở đó biên giới quốcgia không còn ý nghĩa lớn nữa. Do đó, yếu tố về giảm tổng cầu và thị trường laođộng ế ẩm nêu trên diễn ra ở Mỹ sẽ được truyền dẫn sang các nước khác trên thếgiới thông qua trao đổi thương mại, tài chính, tỷ giá và các kênh khác.

Cũngtheo đó, các nền kinh tế liên thông cũng sẽ giảm tăng trưởng. Và hệ quả của sựgiảm tương đối của tổng cầu trên thế giới so với tổng cung về hàng hóa và dịchvụ là áp lực lạm phát giảm.

Thứ tư,khi mà khủng hoảng ở Mỹ và suy giảm kinh tế toàn cầu do cú sốc mang tính tiêu cựccủa cầu thì cầu về dầu, gas, năng lượng và các hàng hóa khác trên thế giới cóxu hướng giảm, kéo theo nó là giá các hàng hóa khác cũng giảm. Sự suy giảm nhucầu của các nền kinh tế lớn như Mỹ, châu Âu, Trung Quốc và các nước châu Á làmcho giá cả các hàng hóa càng giảm mạnh.

Bốn yếutố trên hàm ý rằng cú sốc mang tính tiêu cực của cầu, khủng hoảng kinh tế Mỹ,tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu, các yếu tố của lạm phát sẽ hạ nhiệt,thay vào đó, mối quan ngại về thiểu phát sẽ xuất hiện.

Thêm vào đó, ngân hàngthương mại (NHTM) các nước đó với giá trị tài sản giảm mạnh, bị lỗ lớn do giáchứng khoán, nhà đất giảm mạnh. Chính vì vậy, các động thái chính sách của hàng loạt NHTW trên thế giới triển khai nhưnêu trên là nhằm ngăn chặn xu hướng suy thoái kinh tế trong giảm phát.

… Tìm điểm riêng

Đối vớiViệt Nam, là nước có nền kinh tế đang phát triển mới bước vào hội nhập kinh tếquốc tế, mặc dù đến thời điểm này chưa chịu tác động mạnh của cuộc khủng hoảngnhư hầu hết nền kinh tế chủ chốt, nhưng đến năm 2009 có thể chịu ảnh hưởng mạnhhơn năm 2008.

Do vậy, các động thái chính sách kinh tế vĩ mô, nhất là CSTTkhông thể đi ngược với xu thế hiện nay của thế giới.

Tuy nhiên, do nền kinh tếViêt Nam có những diễn biến tương đối khác so với các nền kinh tế chủ chốt, nênliều lượng nới lỏng, cũng như thời điểm nới lỏng cần có sự nghiên cứu cho phù hợpvới diễn biến tình hình.

Diễn biếnkinh tế Việt Nam năm 2008, mặc dù không đạt được mức tăng trưởng như mục tiêu đềra, nhưng chưa có dấu hiệu suy thoái: tăng trưởng kinh tế quý I là 7,42%; quýII là 5,28%; quý III là 6,5%, cả năm đạt 6,23%, song một số lĩnh vực sản xuất gặpkhó khăn do khủng hoảng, như lĩnh vực xuất khẩu, hàng hải… và tình trạng nhậpsiêu đang là vấn đề cần có những giải pháp để khắc phục, hạn chế đến mức thấpnhất sự suy giảm của nền kinh tế.

Về lạm phát, biểu hiện ở chỉ số giá tiêu dùngtăng mạnh trong 8 tháng đầu năm, đạt ở mức 27,9% so với cùng kỳ và bắt đầu cóxu hướng giảm từ tháng 9, tuy nhiên vẫn ở mức cao, bình quân cả năm 2008 là22,97%.

Điều muốnnhấn mạnh ở đây là CPI của Việt Nam giảm do giá cả trên thế giới giảm, giá lươngthực thực phẩm giảm mạnh, chứ không do nguyên nhân bởi cú sốc tiêu cực bên cầudo thất nghiệp hàng loạt, cung nhiều hơn cầu như các nền kinh tế chủ chốt, trênthực tế, nền kinh tế Việt Nam nguồn cung không dồi dào vượt cầu như các nước.

Thêm vàođó, hệ thống NHTM Việt Nam, tuy cũng gặp khó khăn nhất định do tác động của cuộckhủng khoảng tài chính toàn cầu nhưng rõ ràng là không bị lâm vào tình trạng nhưNHTM của các nền kinh tế chủ chốt, đến thời điểm này hầu hết các NHTM Việt Namđều kinh doanh có lãi.

Đây chính là những điểm khác biệt của tình hình kinh tếViệt Nam với các nền kinh tế chủ chốt hiện nay, vấn đề suy giảm nền kinh tế ViệtNam vẫn tiềm ẩn những dấu hiệu về lạm phát hơn là giảm phát. Điều này sẽ quyếtđịnh các liều giải pháp chính sách của Việt Nam trong năm 2009 để đảm bảo đạthiệu quả cao nhất.

Mục tiêucủa chính sách kinh tế vĩ mô năm 2009 không thể khác là cần phải hướng tới chốngsuy giảm kinh tế, kiểm soát lạm phát ở mức thấp và giữ ổn định vĩ mô.

CSTT là mộtcông cụ quản lý kinh tế vĩ mô, do vậy mục tiêu theo đuổi không nằm ngoài mụctiêu của chính sách kinh tế vĩ mô và cũng không nằm ngoài xu thế CSTT của các nướctrên thế giới và phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam. Trên thực tế,trong tháng 11/2008, Chính phủ đã đưa ra 5 nhóm giải pháp vĩ mô để đối phó vớisuy giảm kinh tế.

Về điều hành CSTT, Nghị quyết Quốc hội về Kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội năm 2009 cũng đã khẳng định thực thi CSTT năm 2009 phải"tiếp tục thực hiện CSTT thắt chặt để kiềm chế lạm phát nhưng linh hoạttrong điều hành lãi suất và tỷ giá, chủ động kiểm soát mức tăng trưởng tổng phươngtiện thanh toán, dư nợ tín dụng và cơ cấu tín dụng phù hợp để tạo điều kiệnphát triển sản xuất - kinh doanh. Tăng khả năng thanh khoản của hệ thống NHTMvà đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia...".

Như vậy,xu hướng của thế giới là nới lỏng CSTT, tạo thanh khoản cho các NHTM với liều lượnglớn thể hiện ở việc giảm mạnh mức lãi suất chủ chốt và cung ứng tiền mạnh.

Nhưngđối với Việt Nam, mức độ và liều lượng sẽ không như vậy, với định hướng choCSTT như nêu trên, vấn đề đặt ra cho thực thi CSTT là cần theo đuổi mục tiêu cụthể gắn với những diễn biến thực tế của nền kinh tế và thị trường tiền tệ.

Vấnđề kiểm soát cung tiền cần được hướng vào kiểm soát tín dụng về mức độ gia tăngvà chất lượng tín dụng nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát vàan toàn hệ thống.

Và bài họccũ

Trong bốicảnh suy thoái kinh tế mang tính toàn cầu, năm 2009 các DN trong nước sẽ rấtkhó khăn trong việc duy trì và mở rộng sản suất, điều đó kéo theo việc mở rộngtín dụng của các NHTM cũng sẽ rất khó khăn.

Thực tế này tương tự như năm 1997,khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra đã có tác động trễ đến hệ thốngNHTM Việt Nam sau 2 năm, mặc dù khi đó NHNN đã hạ rất thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộcvà hạ thấp mức trần lãi suất cho vay, nhưng các NHTM cũng khó có thể mở rộngtín dụng được do các DN gặp khó khăn.

Giải pháp chính sách trong thời gian đóđã dẫn đến một thực trạng là các NHTM dư thưa vốn khả dụng lớn, nhưng do trongthời gian này NHNN không trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc, mà trả lãi cho dựtrữ vượt, nên sự dư thừa phần nào được bù đắp bằng lãi do NHNN trả.

Song, hậuquả của dự trữ vượt trong thời gian này là giảm khả năng điều tiết thị trườngtiền tệ của NHNN, bởi một trong những nguyên tắc để đảm bảo thực thi CSTT hiệuquả, đó là không để các NHTM quá dư thừa vốn, bởi một khi dư thừa vốn thì cácNHTM sẽ phản ứng rất chậm trước những thay đổi CSTT của NHNN.

Nêu lạivấn đề của năm 1999 để thấy rằng, việc thực hiện CSTT năm 2009 bớt thắt chặt hơnnăm 2008, song cần tuân thủ theo nguyên tắc trên để đảm bảo NHNN không mất đivai trò cầm lái thị trường vừa được thiết lập năm 2008, bởi sự dư thừa quá mứcvốn khả dụng của các NHTM. Mặt khác, hiện nay NHNN không trả lãi cho tiền gửi dựtrữ vượt, nên nếu NHNN hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá sẽ càng đẩythêm khó khăn cho các NHTM.

Như vậy,thực thi CSTT trong bối cảnh khủng hoảng tài chính mang tính toàn cầu, mức độ,liều lượng chính sách và thời điểm quyết định thích hợp có ý nghĩa vô cùng quantrọng trong việc hỗ trợ tích cực chống suy giảm kinh tế và kiểm soát được lạmphát theo mục tiêu.

Theo TS. NguyễnThị Kim Thanh
ĐTCK

  Xem theo ngày : 
Copyright 2007 - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VCCorp).
Tầng 16,17,18 - Toà nhà VTC online
Số 18 Tam Trinh, HBT, Hà Nội
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet số 1084/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 16 tháng 4 năm 2014.
Ban biên tập CafeF, Tầng 18, tòa nhà VTC Online.
Số 18 Tam Trinh, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Điện thoại: 04-39743410 Máy lẻ 295. Fax: 04-39744082
Email: info@cafef.vn - Đường dây nóng: 0922 096 886
Ghi rõ nguồn "CafeF" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
 
Liên hệ quảng cáo: Ms. Hương
Mobile: 0934 252 233
Email: doanhnghiep@admicro.vn
Hỗ trợ & CSKH : Ms. Thơm
Mobile: 01268 269 779
 
Thỏa thuận chia sẻ nội dung