TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Chuyện lãi suất cơ bản và Bộ luật Dân sự

10-05-2008 - 08:22 AM | Tài chính - ngân hàng

Chuyện lãi suất cơ bản và Bộ luật Dân sự

Việc sửa đổi một quy định trong Bộ luật Dân sự liên quan đến vấn đề lãi suất sẽ được đưa ra xem xét tại kỳ họp Quốc hội lần này.

Nhưng liệu có phải quy định đó lạc hậu hay lãi suất cơ bản không phù hợp với tình hình thực tế? Và nên sửa cái nào?

Khoản 1, điều 476 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Lý do chính phải khống chế giới hạn lãi suất vay tối đa so với lãi suất cơ bản của NHNN là nhằm hạn chế vấn nạn cho vay nặng lãi trong nền kinh tế.

Cho vay nặng lãi là một quan hệ vốn tồn tại phổ biến trong các xã hội trung cổ và cả trong thời kỳ thế giới chuyển mình sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ngày nay, quan hệ cho vay nặng lãi vẫn tồn tại ở các nền kinh tế còn ở trình độ kém phát triển hay ở các vùng miền còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, miền núi… những nơi mà hệ thống tài chính chưa phát triển và hệ thống luật pháp còn lỏng lẻo, thiếu năng lực thực thi và giám sát. Cho vay nặng lãi không những làm biến dạng các quan hệ kinh tế mà còn gây ra các mâu thuẫn và căng thẳng xã hội.

Là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao, hệ thống tài chính Việt Nam cũng theo đó mà dần được tạo lập và hoàn thiện. Sự phát triển của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng đang dần lấn át các quan hệ tín dụng nặng lãi. Khi có nhu cầu vay vốn, người dân có thể tiếp cận vốn tín dụng chính thức từ ngân hàng cũng như thị trường tài chính cạnh tranh thì không lý gì tín dụng nặng lãi vẫn còn có cơ sở tồn tại.

Khi nền kinh tế còn kém phát triển thì mức chênh lệch lãi suất cho vay chính thức và phi chính thức giả sử vượt quá giới hạn 200% thì có thể được xem là nặng lãi. Nhưng khi nền kinh tế đã phát triển đến một mức độ nào đó thì giới hạn trên cần được kéo xuống mới hợp quy luật.

Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển hết sức nhanh chóng của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính. Với những nền tảng vững chắc như vậy thì trong tương lai sự phát triển sẽ còn tiếp tục và còn đạt được những thành tựu lớn hơn nữa. Vậy thì không có lý do gì mà phải điều chỉnh tăng giới hạn trên lên 300% hay 200% cả.

Thực tế, nội dung của điều luật trên được xây dựng cách nay gần 15 năm (BLDS 1995), thậm chí còn lâu hơn, đã giúp cho Nhà nước có thể ngăn chặn, trừng trị, điều hòa và giải quyết biết bao nhiêu quan hệ cho vay nặng lãi trong nền kinh tế, góp phần làm trong sạch các quan hệ kinh tế và xã hội.

Theo sự phát triển đi lên của nền kinh tế thì lẽ ra giới hạn 150% trong BLDS phải được giảm xuống ở mức thấp hơn, chẳng hạn 140% hay thậm chí 130%, thì mới có cơ sở thuyết phục. Không nên vì sự biến động bất thường của thị trường tín dụng hiện nay mà xem rằng điều luật trên không còn phù hợp.

Ngược lại, lãi suất cơ bản do NHNN công bố đã đóng băng từ lâu và không phản ánh được mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế hiện nay khi lạm phát đã lên rất cao. Chính mức lãi suất cơ bản hiện nay đã lạc hậu chứ không phải điều luật trên không còn phù hợp. Do lãi suất qua các trung gian tài chính có tính phân lập nên trong điều kiện lãi suất huy động được NHNN khống chế ở mức trần 12%/năm thì lãi suất cơ bản phải nằm ở ngưỡng trên của mức lãi suất này, tức vào khoảng 13%/năm, và như vậy giới hạn tối đa của mức lãi suất cho vay phù hợp với điều luật trên là 19,5%/năm.

Nếu NHNN chịu điều chỉnh mức lãi suất cơ bản lên thì không những “cứu” các ngân hàng khỏi phạm luật mà còn “cứu” cả bản thân mình vì NHNN đã vi phạm quy luật kinh tế khách quan. Rõ ràng công cụ lãi suất không được NHNN sử dụng một cách linh hoạt, uyển chuyển để kiểm soát hiệu quả tình hình lạm phát hiện nay.
 
Theo Đỗ Thiên Anh Tuấn
TBKTSG

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên