tin mới
X
+
-

Đô la hóa và tỷ giá hối đoái của Việt Nam

Gần đây, tỷ giá hối đoái giữa VND với USD biến động mạnh, giá trị VND sụt giảm.

1. Ởnước ta, "đô la hóa" được nhận thức là việc sử dụng USD trong giao dịchthương mại và dịch vụ song song với VND. Trên thế giới, "đô la hóa" cókhái niệm rộng hơn: khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ songsong với đồng nội tệ hoặc thay thế đồng nội tệ. Tùy theo các trạng tháicủa việc sử dụng ngoại tệ, người ta chia làm 3 loại:

Thứnhất, "đô la hóa" chính thức, còn được gọi là "đô la hóa" hoàn toàn khimột nước sử dụng ngoại tệ theo quy chế độc quyền, hay giữ vai trò khốngchế ở nước đó. Một số vùng lãnh thổ như Virgin islands, Greenland vàmột số quốc gia độc lập như Panama sử dụng USD hoặc đồng tiền nước kháclàm đồng tiền chính thức, trong đó có nước không còn đồng nội tệ, cónước vẫn duy trì đồng nội tệ, nhưng đóng vai trò phụ thuộc. Điển hìnhlà ngày 9/1/2000, Tổng thống Ecuado công bố quyết định lấy USD làm đồngtiền chính thức của nước này.

Thứhai, "đô la hóa" bán chính thức khi ở một nước, đồng ngoại tệ chiếmphần chi phối trong tiền gửi ngân hàng, nhưng chỉ đóng vai trò thứ yếuso với đồng nội tệ trong việc trả lương, nộp thuế, mua sắm hàng hóa vàdịch vụ. Khác với các nước " đô la hóa" chính thức, ngân hàng trungương những nước đó phát hành đồng nội tệ và điều hành chính sách tiềntệ của đất nước. Trên thế giới, có khoảng 12 nước như Bahamas, Haiti, Liberia… áp dụng " đô la hóa" bán chính thức.

Thứba, "đô la hóa" không chính thức khi ở một nước người dân giao dịchhàng hóa và dịch vụ, giữ ngoại tệ làm tài sản, mặc dù ngoại tệ khôngđược coi là đồng tiền lưu chuyển hợp pháp trên thị trường trong nước.Một số nước cho phép người dân được gửi ngoại tệ vào tài khoản ở ngânhàng trong nước, nhưng lại coi là bất hợp pháp nếu gửi ngoại tệ vào tàikhoản tại ngân hàng ở nước ngoài, trừ những trường hợp ngoại lệ.

"Đôlà hóa" không chính thức lúc đầu là phương tiện cất trữ (kho chứa giátrị), tiếp theo là phương tiện thanh toán (thay thế đồng nội tệ), cuốicùng được đánh giá tương quan về giá cả giữa ngoại tệ và nội tệ, đượcchỉ số hóa bằng tỷ giá hối đoái. Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) xếp ViệtNam vào nhóm nước "đô la hóa" không chính thức.

Thếgiới đang chứng kiến lần đầu tiên trong lịch sử loài người nhiều quốcgia châu Âu đã từ bỏ đồng tiền của mình để sử dụng đồng tiền chung -đồng euro, đã đem lại những lợi ích to lớn. Từ đó, một số nhà kinh tếhọc đã đưa ra kiến nghị về việc các nước đang phát triển nên bỏ đồngtiền quốc gia của mình để sử dụng một đồng tiền mạnh, coi đó là chínhsách đúng đắn để giải quyết đồng thời thực trạng về sự thiếu tin cậycủa thể chế tài chính - tiền tệ trong nước và tính không hoàn hảo củathị trường vốn được toàn cầu hóa.

Tuyvậy, có không ít người đã phê phán kiến nghị đó vì những nghiên cứu nhưvậy chỉ thiên về đồng tiền thuần túy với chức năng kinh tế của nó. Mụcđích cuối cùng của tiền tệ là đẩy nhanh cỗ xe thương mại, trong trườnghợp thuần túy kinh tế như vậy, thì tiền tệ là một trò chơi có tổngdương, nghĩa là mọi người đều thắng.

Tuyvậy, tiền tệ còn là quyền lực - sức mua, mà quyền lực lại là tâm diểmcủa hoạt động chính trị, do vậy tiền tệ là trò chơi có tổng bằng không,có kẻ thắng người thua. Nước Anh, một trong những nước sáng lập Liênminh châu Âu (EU), nhưng đến nay vẫn không tham gia đồng tiền chungchâu Âu, bởi đa số người Anh có cách nhìn như ông George Carge, Tổnggiám mục Anh: "Tôi muốn có hình nữ hoàng trên tờ giấy bạc ngân hàng.Quan điểm về tính chất quốc gia là một vấn đề vô cùng quan trọng".

"Đôla hóa" không giống như Liên minh Tiền tệ châu Âu (EMU), mà là quan hệđối tác không bình đẳng, có tính thứ bậc. Khi chính phủ một nước ápdụng "đô la hóa" chính thức thì tự đánh mất quyền hoạch định chính sáchtiền tệ, quyền in tiền, mà doanh thu in tiền được coi là "thuế lạmphát", như Keynes đã viết từ năm 1924 rằng, "một chính phủ có thể kiếmsống bằng phương tiện này (in tiền) khi nó không còn có thể dựa vàophương tiện nào khác".

Hơnnữa, vào thời điểm có xung đột lợi ích quốc gia, thì đồng ngoại tệ đượcsử dụng như vũ khí kinh tế, buộc chính phủ "đô la hóa' phải khuất phụcnước sở hữu đồng ngoại tệ đó. Panama là một ví dụ điển hình về một nước" đô la hóa"; mặc dù về kinh tế do sử dụng chính thức USD đã tạo ra môitrường kinh tế ổn định, trở thành trung tâm tài chính quan trọng trongvùng, tương phản với các nước láng giềng, nhưng về chính trị, Panama lànước dễ bị tổn thương trong quan hệ với Mỹ. Điển hình là năm 1998, Mỹđã buộc tội và bỏ tù nhà lãnh đạo của nước này, tướng Manuel Noriega,đồng thời chính phủ Mỹ ra lệnh đóng băng tài sản của Panama tại các ngân hàng Mỹ, ngừng tất cả việc chuyển nhượng, thanh toán bằng USD.

Tómlại, không nên coi "đô la hóa" chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà cònlà vấn đề chủ quyền quốc gia, phân phối lợi ích dân tộc.

2.Từ khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập với thế giới,chính sách tiền tệ trở nên rất quan trọng. Tín dụng, lãi suất và tỷ giálà các công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động kinh tế của đất nước. Ngânhàng Nhà nước trở thành cơ quan có chức năng và quyền lực chi phối hoạtđộng kinh tế cả ở tầm vi mô và vĩ mô.

ởMỹ, Cục dự trữ liên bang (FED) đóng vai trò ngân hàng trung ương, là cơquan độc lập với Tổng thống và Quốc hội, quyết định lãi suất và tỷ giáđể kích thích hoặc kìm hãm tín dụng đầu tư, kinh doanh, xử lý các tìnhhuống kinh tế bằng tăng hoặc giảm lãi suất. Chủ tịch FED, ông BenBernanke được tạp chí Time bình chọn là Nhân vật của năm 2009 do đã"bình tĩnh và khôn ngoan… đặt các phanh hãm sự tuột dốc của nền kinh tếMỹ" như đánh giá của Tổng thống Barak Obama.

Việcbiến động tỷ giá hối đoái trong những tháng gần đây có nhiều nguyênnhân gắn với tình trạng "đô la hóa" không chính thức ở nước ta. Mặc dùChính phủ theo đuổi chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhấtquán "trên thị trường Việt Nam chỉ giao dịch bằng đồng Việt Nam", nhưngthực tế, ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ biến như các phương tiệnthanh toán trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt tiền,vay, trả nợ, cất trữ. Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì các ngoại tệ,nhất là USD gia tăng vai trò trên thị trường.

Chúngtôi đồng tình với một số nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận định rằng, sựbiến động tỷ giá hối đoái trong thời gian vừa qua do cung cầu về ngoạitệ, nhất là USD có lúc trở nên căng thẳng, do chính sách tỷ giá và việcđiều hành tỷ giá thiếu linh hoạt, không kịp thời ứng phó với biến độngcủa thị trường.

Tuyvậy, nguyên nhân chính của thực trạng đó là tình trạng lạm phát caotrong mấy năm liền đã làm cho giá trị thực của VND giảm sút, kéo theođộ tín nhiệm của người dân với VND giảm. Giá cả trên thị trường thếgiới biến động, một số hàng hóa như xăng dầu, sắt thép… tăng cao đã tácđộng đến giá cả trong nước, làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng. Đólà nhân tố khách quan từ bên ngoài. Nhân tố chủ yếu là quan hệ giữa tốcđộ tăng trưởng kinh tế và lưu thông tiền tệ. Trong 2 năm 2005 và 2006,GDP của Việt Namtăng 17%, tiền lưu thông trên thị trường và tiền gửi ngân hàng - M2tăng 73%. Cũng trong hai năm đó, GDP của Trung Quốc tăng 22%, thì M2chỉ tăng 36%. Quan hệ giữa tăng M2 và tăng GDP của nước ta là 4,3 lần,thì của Trung Quốc chỉ là 1,6 lần, điều đó giải thích vì sao CPI củaViệt Nam cao gấp đôi Trung Quốc.

Dovậy, mặc dù kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng cao, nhưng cũngxuất hiện mối lo ngại của các doanh nghiệp và người dân về tình trạnglạm phát cao, VND sụt giá và không ổn định.

CPIliên tục tăng, năm 2004 là 7,71%, năm 2005 là 8,29%, năm 2006 là 7,48%,năm 2007 là 8,30%, năm 2008 là 22,97% và năm 2009 là 6,88%. Thực trạngđó có liên quan đến mức chi tiêu danh nghĩa trong nước đã tăng nhanhkhi các khoản viện trợ chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) và đầu tư gián tiếp (FPI), kiều hối đổ vào nước ta ngày càngnhiều. Nếu như năm 2003, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là 333.809tỷ đồng, thì năm 2008 là 983.803 tỷ đồng, bằng 2,94 lần.

Trongthời gian đó, vốn đầu tư xã hội cũng gia tăng, năm 2003, vốn đầu tư xãhội theo giá thực tế là 239.246 tỷ đồng, thì năm 2008 là 610.876 tỷđồng, bằng 2,55 lần. Cả hai chỉ tiêu này đã tăng bình quân trên20%/năm, trong khi lượng cung ứng thực (được đo bằng sản lượngthực+thâm hụt thương mại thực) chỉ tăng bình quân dưới 10%/năm.

Tốcđộ tăng cung ứng tiền khá cao, liên tục từ năm 2003 đến nay trên25%/năm, tín dụng tăng trên 35%/năm. Tình trạng đó cũng phản ảnh trongquan hệ giữa mức huy động vốn và mức dư nợ tín dụng của các ngân hàngthương mại.

Báocáo gần đây của Ngân hàng Nhà nước cho biết, mức dư nợ tín dụng năm2009 tăng 37,73%, trong khi mức huy động vốn chỉ tăng 28,7%. Vietinbankthông báo, năm 2009, mức dư nợ tín dụng tăng 35%, mức huy động vốn chỉtăng 25%. Các ngân hàng thương mại đua nhau tăng lãi suất để hấp dẫnngười gửi tiền; khi lãi suất tăng cũng có nghĩa là giá trị VND giảm.

Mặcdù Chính phủ quyết tâm theo đuổi chủ trương niêm yết giá hàng hóa vàdịch vụ là VND, nhiều cuộc thanh tra đã được tiến hành và cũng đã xử lýmột số vụ việc vi phạm pháp luật, nhưng trên thực tế, do lòng tin đốivới VND giảm sút, nên người mua và người bán những hàng hóa có giá trịcao như ô tô, xe máy vẫn giao dịch bằng ngoại tệ, chủ yếu là USD, trongkhi bất động sản lấy vàng làm phương tiện tính toán trong giao dịch.

Theo GS.TSKH Nguyễn Mại
Báo Đầu tư

  Xem theo ngày : 
VCCorp Copyright 2007 - Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VCCorp).
Tầng 16,17,18 - Toà nhà VTC online
Số 18 Tam Trinh, HBT, Hà Nội
Giấy phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp trên internet số 1084/GP-STTTT do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội cấp ngày 16 tháng 4 năm 2014.
Ban biên tập CafeF, Tầng 21, tòa nhà Center Building.
Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại: 04 7309 5555 Máy lẻ 41292. Fax: 04-39744082
Email: info@cafef.vn
Ghi rõ nguồn "CafeF" khi phát hành lại thông tin từ kênh thông tin này.
 
Liên hệ quảng cáo: Ms. Hương
Mobile: 0934 252 233
Email: doanhnghiep@admicro.vn
Hỗ trợ & CSKH : Ms. Thơm
Mobile: 01268 269 779
 
Thỏa thuận chia sẻ nội dung