TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Đừng quên “nền kinh tế thật”

03-10-2008 - 15:09 PM | Tài chính - ngân hàng

Đừng quên “nền kinh tế thật”
Đối với Việt Nam hiện nay, mục tiêu tối thượng của hệ thồng tiền tệ phải là làm sao góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thật và hệ thống đó phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ làm nhiều người hoảng hốt về sự tinh vi có sức công phá của một số công cụ tiền tệ, chứng khoán.

Hoạt động của các công ty tài chính, chứng khoán quá tinh vi, phức tạp, cơ chế quản lý, giám sát không theo kịp, để rồi khi các hoạt động ấy thất bại thì làm rung chuyển cả nền kinh tế đã phát triển cao độ và là nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Đối với các nước đang phát triển, cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1997 đã cho thấy những ảnh hưởng của hành động đầu cơ tiền tệ của các công ty tài chính, chứng khoán và những khó khăn trong việc điều hành hệ thống tiền tệ và việc sử dụng các nguồn vốn.

Nhưng lần này sự kiện xảy ra tại một nước tiên tiến bậc nhất càng làm cho ta phải suy nghĩ thế nào là con đường phát triển vững chắc, bền bỉ trước trào lưu toàn cầu hóa và trước những bất trắc do hệ thống tiền tệ, tín dụng gây ra.

Trước hết tôi muốn bàn về hai thuật ngữ ít được nói đến nhưng xét ra rất quan trọng cho Việt Nam ở giai đoạn hiện nay. Đó là nền kinh tế thật (real economy) và nền kinh tế tiền tệ (monetary economy).
Để tránh hiểu lầm, “thật” ở đây không có nghĩa ngược lại với “giả” mà chỉ có nghĩa là “hiện vật”, “thực thể” như số thép sản xuất, số lúa gạo tiêu thụ, số hàng may mặc xuất khẩu, số lao động tham gia sản xuất, số lượng điện cung cấp...
Do đó, đối chiếu với kinh tế thật, kinh tế tiền tệ không có nghĩa là kinh tế giả tạo hay kinh tế ảo mà là nền kinh tế đã quy đổi ra tiền tệ mọi hàng hóa và dịch vụ theo giá trị trên thị trường.
Tuy nhiên, khi giá cả của bất động sản hoặc của chứng khoán bị đội lên quá cao, vượt khỏi giá trị thực của đất đai, của nhà cửa, cao ốc hoặc giá trị thực của công ty thì trong trường hợp đó, kinh tế tiền tệ bao gồm cả ý nghĩa giả tạo.

Nền kinh tế bong bóng là hiện tượng của một nền kinh tế giả tạo. Dĩ nhiên, trên thực tế, trừ những nền kinh tế còn ở giai đoạn sơ khai, kinh tế tiền tệ đã trở thành phổ biến ở mọi nước.

Tại những nước đang phát triển như Việt Nam, kinh tế tiền tệ ngày càng phát triển, đã lan rộng đến cả các vùng sâu, vùng xa. Do đó, bây giờ bàn về một “nền kinh tế thật” thì có vẻ như phi hiện thực.
Nhưng theo tôi, bây giờ là lúc phải trở lại với nền kinh tế thật và trên cơ sở một nền kinh tế thật vững chắc mới có thể có một nền kinh tế tiền tệ phát triển trong ổn định.

Thật ra, khi phân tích lý luận, tùy theo chủ đề, các nhà kinh tế có thể loại trừ tiền tệ ra khỏi khung phân tích. Lý thuyết nổi tiếng của David Ricardo về lợi thế so sánh của một nước là một ví dụ dựa trên phân tích một nền kinh tế thật.

Trong thực tiễn, suy nghĩ kỹ ta cũng thấy “kinh tế thật” vẫn hiện diện rất rõ nét. Chẳng hạn, với thời gian lao động mỗi tuần, người công nhân ở khu công nghiệp tại TPHCM vào tháng 10 năm nay mua được bao nhiêu cân gạo, bao nhiêu lít nước mắm, và so với tháng 10 năm ngoái lượng gạo, lượng nước mắm tăng giảm ra sao... là những ý niệm của một nền kinh tế thật rất thời sự hiện nay.

 Mục tiêu của phát triển kinh tế là nâng cao mức sống của dân chúng. Dù kết quả của phát triển phản ảnh ở thu nhập tính bằng tiền, mức sống của dân chúng phải được xét trên sức mua của thu nhập bằng tiền ấy. Mức sống được nâng cao khi điều kiện về nhà ở, ăn mặc... được cải thiện so với trước, và đây là phạm trù của nền kinh tế thật.

Tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế. Tiền tệ là phương tiện trao đổi, là đơn vị tính toán để đo lường giá trị các hàng hóa giao dịch.
Hệ thống tiền tệ còn có vai trò trung gian huy động vốn từ nhiều nguồn trong dân chuyển sang các nhà đầu tư, và cung cấp phương tiện để nhà nước thực hiện chính sách ổn định các hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, nội dung và cơ cấu của hệ thống tiền tệ, tín dụng phải tương thích với trình độ phát triển của nền kinh tế.
Đối với Việt Nam hiện nay, mục tiêu tối thượng của hệ thống tiền tệ phải là làm sao góp phần làm mạnh nền kinh tế thật và hệ thống đó phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước.
Để được như vậy, phải ưu tiên củng cố hệ thống ngân hàng, làm cho ngân hàng trở thành chỗ tin cậy và gần gũi với dân chúng là những người gửi tiết kiệm, là những nhà đầu tư.
Phải tạo cơ chế để các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận với vốn mới có thể xúc tiến đầu tư phát triển, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng cường nền kinh tế thật.
Mặt khác, thị trường chứng khoán nên được phát triển từng bước vững chắc, không thể vội vàng. Phải chuẩn bị các luật lệ đầy đủ. Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong mấy năm qua có thể xem là chưa phát triển lành mạnh.
Luật lệ về công khai tài chính của các công ty niêm yết chưa đầy đủ, luật cấm giao dịch nội gián (insider transaction) chưa nghiêm đã cho niêm yết nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Trở lại vấn đề về nền kinh tế thật. Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997, một trong những nguyên nhân làm cho Thái Lan bị ảnh hưởng nặng hơn các nước khác là sự suy yếu trong nền kinh tế thật.

Trước sự trỗi dậy của Trung Quốc từ đầu thập niên 1990, Thái Lan không kịp chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu lên cao hơn để tránh cạnh tranh từ Trung Quốc, hoặc không kịp cải tiến công nghệ để tăng năng suất nhằm duy trì cạnh tranh trong cơ cấu cũ. Do xuất khẩu không tăng, cán cân thương mại ngày càng nhập siêu.
Điều này vừa làm tăng nhập khẩu tư bản (nhất là tư bản ngắn hạn được khuyến khích trong một cơ chế tự do hóa các dòng vốn), vừa tạo tâm lý lo ngại giữa những nhà đầu tư nước ngoài về sự mất giá của đồng baht. Đây là trường hợp nền kinh tế thật suy yếu đã đưa đến bất ổn trong nền kinh tế tiền tệ.

Trường hợp ở nước ta hiện nay, tuy có cải thiện trong vài tháng nay, cán cân thương mại vẫn nhập siêu lớn. Nguyên nhân chính một mặt là vì cơ cấu xuất khẩu không được cải thiện, vẫn còn phụ thuộc vào các mặt hàng dùng nhiều lao động giản đơn và ít giá trị gia tăng, mặt khác chậm thay thế nhập khẩu nhiều mặt hàng mà Việt Nam có tiềm năng trong lợi thế so sánh.

Để chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, cải thiện cán cân thương mại, cần phải tăng năng lực cạnh tranh. Phải nâng đỡ hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (giúp tiếp cận với vốn, với công nghệ và thông tin về thị trường) để có khả năng liên kết với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài tạo thế liên hợp hàng dọc, và như vậy sẽ thay thế dần một cách hiệu quả các sản phẩm đang nhập khẩu.

Trong trung hạn, phải cung cấp đủ lao động lành nghề, các nguồn nhân lực có khả năng quản lý trung và cao cấp... Tất cả các mặt này đều thuộc lĩnh vực của một nền kinh tế thật.Trong tình hình hiện nay, Việt Nam cần quay về với nền kinh tế thật, dồn sức lực củng cố nền kinh tế thật. Đây là con đường để có phát triển ổn định, bền vững.

 Theo Trần Văn Thọ
TBKTSG

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên