TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Hạn chế cho vay cầm cố chứng khoán:Hết “ép phê”?

19-11-2007 - 07:40 AM | Tài chính - ngân hàng

Hạn chế cho vay cầm cố chứng khoán:Hết “ép phê”?

Sau bốn tháng ra đời với không ít lời bàn cãi, chỉ thị 03 về hạn chế cho vay cầm cố chứng khoán thực tế đã tác động thế nào đến thị trường chứng khoán? Phải chăng vì nó mà thị trường đi xuống?

Anh Đinh Gia Khánh, nhà đầu tư mở tài khoản tại công ty chứng khoán SSI, cho biết khi chỉ thị 03 được ban hành, anh đã lo sốt vó vì hợp đồng vay cầm cố chứng khoán của anh chỉ mới có hai tháng. “Lúc đó tôi sợ thị trường cứ giảm liên tục và đến ngày đáo hạn mà không được vay tiếp thì đành phải bán lỗ để trả nợ ngân hàng. Nhưng may thị trường đã tăng trở lại hồi tháng 9 nên cổ phiếu bán được và cũng có lời. Vì vậy khoản vay ngân hàng đến lúc đáo hạn cuối tháng 10 vừa qua tôi đã trả xong”, anh Khánh nói.

Nhà đầu tư đã có cách xoay xở

Tuy nhiên, danh mục đầu tư của anh Khánh cũng phải rút ngắn lại do không còn khoản vay tiếp tục nữa. Nhưng bù lại, anh đã tích luỹ thêm được một khoản vốn và vẫn tiếp tục tham gia giao dịch.

Trong khi đó, anh Nguyễn Công Hùng, một nhà đầu tư tại sàn chứng khoán Đại Việt cho biết trước đây mấy tháng, anh đã lo lắng vì sẽ không còn tiền để chơi chứng khoán nữa. Từ trước đến nay, khoảng 2/3 số cổ phiếu trong danh mục của anh đều được cầm cố để xoay vòng. Anh cho biết, lúc mới nghe chỉ thị 03 cũng lo nhiều lắm, nhưng bây giờ thì đã quen rồi và anh đã tính đường khác. Hơn nữa, hiện nay một số công ty chứng khoán vẫn còn cửa cho nhà đầu tư vay tiền được nên anh cho rằng vay tiền không phải là chuyện khó khăn.

Theo ông Đoàn Đức Vịnh, trưởng ban cố vấn chiến lược công ty chứng khoán Âu Việt, chỉ thị 03 có ảnh hưởng lớn đến nhà đầu tư trong thời gian đầu khi mới công bố. Chỉ có một số ít nhà đầu tư thường xuyên sử dụng tiền vay ngân hàng để xoay vòng thì mới bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, ngay cả họ đã có một thời gian chuẩn bị và thích nghi thì đến nay tiền không còn là vấn đề tác động chuyện kinh doanh chứng khoán của họ nữa. Cũng theo nhận định của ông Vịnh, chỉ thị 03 không tác động lớn đến giá cả chứng khoán trên thị trường mà sự lên hay xuống của thị trường nói chung và VN-Index nói riêng do nhiều yếu tố khác.

Lượng giao dịch không giảm

Nhiều chuyên gia tài chính đến giờ phút này nhìn nhận chỉ thị 03 có làm giảm nguồn vốn của nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán nhưng không phải là quá lớn. Bằng chứng là lượng giao dịch từ tháng 5 đến tháng 8 của sàn TP.HCM chỉ xoay quanh mức 500 – 700 tỉ đồng/phiên nhưng đến tháng 9, lượng giao dịch đã tăng lên đến mức 1.500 tỉ đồng/phiên. Điều này cho thấy nguồn tiền kinh doanh chứng khoán không giảm, trái lại còn tăng lên đáng kể. Có ý kiến giải thích, trong khi một số nhà đầu tư cá nhân bị hạn chế nguồn vốn vì cánh cửa ngân hàng đóng lại, thì thay vào đó, lượng tiền của các nhà đầu tư nước ngoài lại tăng mạnh.

Theo thống kê của ngân hàng Nhà nước TP.HCM, tính đến hiện nay các ngân hàng trên địa bàn thành phố còn dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán khoảng 4.400 tỉ đồng. Tỷ lệ dư nợ này của các ngân hàng hiện còn chiếm khoảng 7 - 10% trong tổng dư nợ. Trong khi trước chỉ thị 03, tỷ lệ dư nợ cho vay của các ngân hàng luôn ở mức từ 15 - 20%, thậm chí cao hơn. Như vậy tổng dư nợ cho vay chứng khoán đạt hơn 10.000 tỉ đồng. Chỉ thị 03 ra đời thì số tiền đổ vào chứng khoán giảm đi 7.000 - 8.000 tỉ đồng.

Trong khi đó, 9 tháng đầu năm, ngân hàng Nhà nước đã mua vào 9 tỉ USD. Chỉ tính riêng trong ba tháng từ tháng 6 đến tháng 9, ngân hàng Nhà nước đã phải mua vào 3 tỉ USD, tương đương khoảng 48.000 tỉ đồng được đưa ra thị trường. Theo lãnh đạo một quỹ đầu tư, trong số tiền mà nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam thời gian qua thì phần lớn là đầu tư gián tiếp. Vì vậy nếu so sánh giữa số tiền mà chỉ thị 03 hạn chế đưa ra và số tiền từ nước ngoài đưa vào thì rõ ràng mức cầu trên thị trường chứng khoán không giảm mà còn tăng lên.

Ông cho rằng chỉ thị 03 có tác động đến nhà đầu tư chứng khoán phần lớn chỉ là tâm lý, nhất là khi thời gian đầu mới công bố. Tâm lý này lan truyền mạnh, thậm chí nó làm cho những nhà đầu tư sử dụng nguồn vốn tự có cũng e ngại và có thể một phần nào đó chần chừ không dám bỏ tất cả vào chứng khoán. Thế nhưng đến giờ phút này thì sự tác động đó cũng đã qua đi.

Theo Huyền Lê
SGTT

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM