TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Khai thông thị trường bằng... linh hoạt lãi suất

28-04-2012 - 07:24 AM | Tài chính - ngân hàng

Khai thông thị trường bằng... linh hoạt lãi suất

Dưới góc độ một DN sản xuất, ông Đoàn Trọng Lý - Chủ tịch HĐQT, TGĐ Cty CP chăn nuôi chế biến và XNK “APROCIMEX” đã đưa ra những kiến nghị cụ thể để... “cứu” DN, trước hết là linh hoạt lãi suất.

Hiện nay, trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng rất khó khăn, các phí đầu vào cho sản xuất nguyên vật liệu, vận tải… đều tăng cao. DN rất chật vật khi giá vốn cao trên đơn vị kinh doanh cũng phải cao. Lợi nhuận của các DN thường khoảng 10 – 15%, nếu DN hoạt động chủ yếu chỉ dựa vào tiền vay, thì lợi nhuận rơi hết vào ngân hàng.

DN “gồng mình” chờ cơ hội

Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, trong điều kiện hiện nay chính là cơ hội tái cơ cấu DN, khai tử những DN quá yếu kém, và DN nào mạnh sẽ trụ và tiếp tục vươn lên khẳng định vị trí và uy tín. Các DN gồng mình đưa ra chiến lược “tự cứu” để kiếm tiền nuôi bộ máy, trả khấu hao, duy chì hoạt động của DN như: Hợp lý hóa sản xuất, tập trung kinh doanh sản phẩm chính; giảm tồn kho; rút ngắn thời hạn thanh toán phân phối để đẩy nhanh vòng vốn, giảm lệ thuộc vào vay ngân hàng; đảm bảo thanh toán hàng nhập khẩu, tạo nguồn dự phòng thay đổi tỉ giá; tránh giảm mức tiêu thụ bằng cách chấp nhận lỗ để giữ khách hàng giữ thị trường. Trong khi đó, việc điều chỉnh giá đơn hàng không thể thực hiện do đối tác nào cũng rơi vào tình cảnh khó khăn nợ nần chồng chất. Giải pháp trước mắt là quyết liệt tiết kiệm trong điều hành sản xuất và chi tiêu nhằm duy trì sản xuất để chờ cơ hội…

Trên thực tế, 4 năm qua là những năm liên tục khó khăn, mỗi năm một khó khăn hơn. Lạm phát gia tăng, việc chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư giảm, khả năng hấp thụ vốn tín dụng của DN khó khăn. Trong bối cảnh này, tín dụng không tăng được là bao, cũng chỉ tăng được khoảng 2%, trong khi đó chỉ tiêu cả năm từ 15 -17%, điều đó chứng tỏ sức khỏe của DN vô cùng yếu. Nên chăng, các ngân hàng cần có tiêu chí để đo lường việc cấp tín dụng cho đúng khách hàng, đúng đối tượng, đối tác và cận chia các tín dụng ở nhiều mức độ khác nhau. Trong hoạt động tín dụng phải điều chỉnh hợp lý, ngay các ngân hàng cổ phần thương mại cũng vẫn vướng những quy định “cứng nhắc” của NHNN.

Nhìn lại năm 2011 có thể thấy, với lãi suất 25%/năm DN vay được vốn ngân hàng thì khó có thể kinh doanh có lãi đủ để trả cho ngân hàng. Do đó, nếu không giảm nhanh lãi suất cho vay, các DN VN sẽ tiếp tục “phá sản” ngay trên sân nhà. Rất nhiều ý kiến cho rằng, DN lâm vào tình trạng khó khăn như hiện nay là có sự tác động và phản ứng với chính sách còn chậm. Đến thời điểm này, lãi suất vẫn rất cao và DN khó tiếp cận được vốn.

Động thái giảm trần lãi suất huy động xuống 12%/năm của NHNN nhằm giảm lãi suất đầu ra xuống thấp để giúp các DN tiếp cận nguồn vốn vay dễ dàng hơn, trong bối cảnh “sức khỏe” của khối sản xuất đang “ngàn cân treo sợi tóc” đây là tín hiệu tốt. Tuy nhiên, chính sách tốt nhưng không đi vào cuộc sống, vào đúng đối tượng. Đơn cử hiện ngân hàng quốc doanh áp dụng trần lãi suất cho vay 17 - 18%/năm. Nhưng đối với NH cổ phần vẫn chưa có động thái gì vẫn áp lãi suất cho vay 20%/năm trở lên (cả phí). Vậy nên, để công bằng hơn về điều kiện kinh doanh giữa ngân hàng và khách hàng, chặn đứng cuộc đua lãi suất, NHNN nên ban hành chính sách áp trần lãi suất cho vay là biện pháp cần thiết để kéo mặt bằng lãi suất xuống thấp, giúp DN tránh đình đốn. Do đó, nếu căn cứ vào trần lãi suất huy động như hiện nay, thì lãi suất cho vay là 15%/năm là hợp lý nhất.

Chính sách cần linh hoạt

Vì vậy, theo tôi, thứ nhất, điều hành chính sách cần linh hoạt hơn để hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Điều đó không đồng nghĩa với việc nới lỏng quá tay, mà cần phải mở rộng hơn từng lĩnh vực có trọng tâm, trọng điểm. Mấu chốt trong đó là hỗ trợ cho DN bằng việc giảm lãi vay, hỗ trợ thuế GTGT hoặc giãn nợ… Cần khai thông thị trường liên DN để dòng tiền lưu thông tốt hơn, tránh tình trạng chỗ thừa, chỗ thiếu. Dòng tiền trong nền kinh tế phải được đưa vào lưu thông, vào sản xuất kinh doanh, nếu không DN khó có thể trụ được.

Cần khai thông thị trường liên DN để dòng tiền lưu thông tốt hơn, tránh tình trạng chỗ thừa, chỗ thiếu.

Thứ hai, các ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho các DN, đặc biệt là các DN nhập khẩu nguyên liệu, nhiên liệu, phục vụ nền kinh tế thì các hợp đồng giữa DN và các ngân hàng thương mại phải được tạo điều kiện cho DN trong giai đoạn này chứ không phải mở LC là đã tính thực hiện hạn mức vay của DN. Việc ngân hàng yêu cầu DN phải đặt cọc 30% trước khi mở LC 1 – 2 tháng hàng mới về thì DN mất một khoản đọng vốn vào ngân hàng và đồng thời phải chịu tính lãi suất, trong khi DN vẫn chưa thu được hiệu quả kinh doanh.

Chính sách tiền tệ đều dựa trên nguyên tắc điều hành thị trường, dựa trên những biểu hiện từ nội tại nền kinh tế. Nếu như các ngân hàng lớn trên thế giới thường có bộ phân nghiên cứu vĩ mô để có những cảnh báo cho nhà quản trị trong điều hành thì điều này rất ít thấy ở ngân hàng VN. Một trong những chỉ tiêu đánh giá thế mạnh của một ngân hàng này so với ngân hàng khác chính là việc quản trị rủi ro, bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro tỉ giá. Chính chất lượng quản trị rủi ro hệ thống sẽ giúp cho ngân hàng duy trì lợi nhuận cho các nhà đầu tư trong dài hạn. Qua khủng hoảng, các DN cũng như các định chế tài chính cần rút ra bài học trong quá trình điều hành DN trong tương lai. Thuận lợi duy nhất vào thời điểm này VN có được bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm giải pháp giảm suy thoái kinh tế và chống lạm phát.

Theo Đoàn Trọng Lý

Diễn đàn doanh nghiệp

hangnt

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM