Ngân hàng là huyết mạch của cả nền kinh tế. Ngân hàng tắc,
kinh tế đình trệ. Đó là tình trạng của nền kinh tế hiện nay khi mà vốn của ngân
hàng không thể chảy tới các ngành khác. Một trong những khó khăn chính là lãi suất
vay vốn vẫn còn rất cao đối với sức chịu đựng của doanh nghiệp.
Cũng có ý kiến cho rằng, theo tính toán thì các ngân hàng
không lãi nhiều như mọi người vẫn tưởng là 6%/ đồng vốn huy động (chênh lệch
huy động 9% và cho vay 15%), mà chỉ khoảng 2,9%/đồng vốn huy động.
Theo so sánh thì đó là tỷ suất sinh lời thấp nếu so với
ngành khác nhưng dường như lời giải thích này hơi thiếu thuyết phục.
Cần làm rõ lợi nhuận mà ngân hàng thu về trên mỗi đồng vốn
huy động và lợi nhuận sẽ được chia cho cổ đông của ngân hàng.
Hãy lấy ví dụ, ngân hàng A có vốn điều lệ 10 ngàn tỷ đồng với
lượng vốn huy động về là 100.000 tỷ đồng và có LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) là
70% tương đương 70.000 tỷ đồng.
Với lợi nhuận tính toán chỉ 2,9% trên dư nợ cho vay ngân
hàng A cũng có khoản lợi nhuận từ thu nhập lãi thuần xấp xỉ 2.000 tỷ đồng.
Nếu ngân hàng không có khoản doanh thu và chi phí nào khác,
sau khi trích lập dự phòng và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính là 1.000
tỷ.
Rõ ràng ngân hàng vẫn có khoản lợi nhuận lên tới 1.000 tỷ đồng
sau thuế , tỷ lệ chia cổ tức có thể là 9 -10%.
Kinh tế khó khăn, doanh nghiệp thua lỗ, phá sản thì ngân
hàng với chức năng là trung gian tài chính nếu kinh doanh an toàn, hiệu quả vẫn
cho khoản lợi nhuận 10%.
So sánh với việc gửi tiết kiệm ngắn hạn 9%/năm thì những ông
chủ ngân hàng có thể có khoản lợi nhuận đầu tư không thấp.
Con số lợi nhuận trên chỉ tính với tỷ lệ cho vay/huy động là
70%; nhưng trong hệ thống NHTM cũng có không ít ngân hàng cho vay vượt tỷ lệ
trên.
Vì thế nói tỷ suất lợi nhuận/đồng vốn huy động của ngân hàng
ở điều kiện kinh tế khó khăn chỉ 2,9% là thấp thì không biết khi kinh tế bình
thường lợi nhuận ngân hàng sẽ ở mức nào.
Cách tính ở trên mới chỉ là ước tính nhanh nhưng cũng phần
nào phản ánh được thu nhập thực của các ngân hàng.
Vẫn biết ngân hàng là doanh nghiệp, kinh doanh thì phải có
lãi, đảm bảo an toàn cho người gửi tiền nhưng nếu các ông chủ ngân hàng chấp nhận
giảm bớt lợi nhuận trước mắt, chỉ 1% thôi, thì có lẽ sẽ giúp nhiều doanh nghiệp
có cơ hội tiếp cận vốn.
Thậm chí nếu họ chấp nhận hạ tiếp lợi nhuận để trích lập dự
phỏng rủi ro tín dụng đầy đủ thì chắc chắn các doanh nghiệp tốt, doanh nghiệp
kinh doanh hiệu quả còn có thể tiếp cận lãi suất thấp hơn.
Còn các doanh nghiệp cũng phải nhìn lại chính bản thân mình
vì hầu hết doanh nghiệp Việt Nam đều kinh doanh với tỷ lệ đòn bẩy rất cao. Từ
DNNN có tiềm lực, tài sản nhiều đến doanh nghiệp tư nhân, thậm chí doanh nghiệp
bắt đầu khởi nghiệp.
Tại báo cáo của bộ Tài chính, tính đến tháng 9.2011, có đến
30/85 (tức 35%) tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu
cao hơn 3 lần. Đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần.
Còn tại buổi đối thoại giữa ngân hàng và doanh nghiệp, Thống
đốc Nguyễn Văn Bình chia sẻ nhận bức thư của doanh nghiệp trẻ, khởi nghiệp với
vài chục triệu đồng đã thông qua nhiều cách để vay 3 tỷ đồng nhưng kinh doanh
thua lỗ.
“Hiện anh ấy muốn vay thêm 3 tỷ nữa để kinh doanh, nhưng nếu
tôi là giám đốc chi nhánh Ngân hàng cũng không dám cho anh này vay thêm bởi quy
mô nhỏ, vốn tự có thấp, kế hoạch kinh doanh không rõ ràng ”- Thống đốc thẳng thắn
đánh giá.
Phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng, đòn bẩy tài
chính cao khi thị trường khó khăn nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng “chết
trên đống tài sản dở dang”.
“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, các doanh nghiệp muốn có sự
hỗ trợ từ phía ngân hàng thì trước hết phải giải quyết bớt những bất cập, rào cản
do chính doanh nghiệp tạo ra.
Mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp là lâu dài, và biết
bỏ cái ngắn hạn để được lấy cái lâu dài chắc chắn cả ngân hàng và doanh nghiệp
sẽ tăng trưởng bền vững.
Lê Tuấn