TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Lợi thế chi phí vốn của các ngân hàng lớn

19-10-2008 - 10:48 AM | Tài chính - ngân hàng

Lợi thế chi phí vốn của các ngân hàng lớn

Với lợi thế nguồn vốn không kỳ hạn có chi phí thấp chiếm tỷ trọng cao, nhiều NH lớn dù đã hạ LS cho vay về gần LS huy động vẫn có lãi.

Vì sao một số ngân hàng thương mại mặc dù giảm lãi suất cho vay xuống dưới mức lãi suất huy động nhưng vẫn đảm bảo có lãi trong hoạt động tín dụng?

 

Thời gian gần đây, một số ngân hàng thương mại lớn đã mạnh tay giảm lãi suất cho vay xuống mức tương đương lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Động thái này khiến nhiều người thắc mắc: chi phí dự trữ bắt buộc, chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí hoạt động... đã đội chi phí huy động vốn từ mức 17%/năm lên mức khoảng trên 18%/năm, làm sao có thể cho vay dưới mức này.

 

Thật ra, lãi suất cho vay phải căn cứ trên chi phí vốn hợp lý và để tìm câu trả lời cho vấn đề chi phí vốn, chúng ta hãy xem xét cơ cấu nguồn vốn. Thông thường các ngân hàng huy động vốn từ sáu nguồn chính:

 

Thứ nhất: Tiền gửi của các cá nhân, tổ chức, gọi chung là tiền gửi khách hàng (hay tiền huy động từ thị trường 1- M1): Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng. Các ngân hàng có uy tín thường có tỷ lệ này rất cao, chiếm khoảng 70-80% tổng nguồn vốn.

 

Các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước có lợi thế về nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế do có cơ sở lớn khách hàng doanh nghiệp. Ví dụ, số dư huy động từ tổ chức kinh tế chiếm khoảng 60% số dư huy động từ khách hàng của Vietcombank và 56% từ khách hàng của BIDV vào cuối năm 2007.

 

Ngân hàng nào càng có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao càng có lợi thế về chi phí vốn. Các NHTM nhà nước có cơ sở khách hàng lớn với hàng trăm ngàn tài khoản không kỳ hạn, đặc biệt là tài khoản của các tổng công ty lớn, lượng tiền gửi trên tài khoản không kỳ hạn lớn hơn nhiều lần số dư huy động của một số ngân hàng quy mô nhỏ.

 

Thứ hai: Tiền gửi và tiền vay của các tổ chức tín dụng khác hay còn gọi là nguồn vốn huy động từ thị trường 2 (M2).

 

Nguồn vốn này huy động thông qua thị trường liên ngân hàng, các ngân hàng cho vay và gửi tiền lẫn nhau.

 

Ngân hàng lớn sẽ có tỷ lệ tiền huy động từ thị trường 2 thấp hơn các ngân hàng nhỏ và ngược lại. Các ngân hàng lớn thường cấp một hạn mức tín dụng cho các ngân hàng nhỏ, hoặc bằng hình thức thế chấp giấy tờ có giá (trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty...) hoặc tín chấp.

 

Lãi suất trên thị trường M2 thường cao hơn trên thị trường M1 và có thể tăng rất cao khi một số ngân hàng thiếu vốn dự trữ cho mục đích thanh khoản như thời gian vừa qua.

 

Thứ ba: Tiền gửi thanh toán và tiền vay của các tổ chức và của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

 

Tỷ lệ nguồn vốn này không cao, tùy thuộc vào từng ngân hàng.

 

Các ngân hàng vay NHNN thông qua nghiệp vụ thị trường mở, thực hiện chiết khấu và tái chiết khấu chứng từ có giá như trái phiếu chính phủ, trái phiếu Kho bạc Nhà nước...

 

Điều kiện để thực hiện nghiệp vụ này là phải có sẵn chứng từ có giá. Các ngân hàng thương mại tỏ ra không mặn mà với nghiệp vụ này. Một số NHTM nhà nước được giao nhiệm vụ làm đầu mối thanh toán liên ngân hàng, thanh toán cho các dự án của Chính phủ, dự án ODA... nên có tỷ lệ lượng tiền này tương đối cao trong cơ cấu nguồn vốn.

 

Thứ tư: Phát hành giấy tờ có giá, bao gồm chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu thông thường, trái phiếu tăng vốn...

 

Trước đây, các ngân hàng thường ít thực hiện hình thức huy động vốn này do yếu tố thị trường, người gửi tiền chưa quen với các loại giấy tờ có giá. Mấy năm trở lại đây, các ngân hàng đã tích cực đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, tăng tính hấp dẫn của các sản phẩm huy động vốn, phát hành giấy tờ có giá đã phổ biến hơn.

 

Tuy nhiên, nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng chưa cao trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng. Lãi suất của giấy tờ có giá thường cao hơn lãi suất các khoản tiền gửi có kỳ hạn.

 

Thứ năm: Nguồn vốn chủ sở hữu, thường bao gồm vốn điều lệ, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ dự trữ. Đây là nguồn vốn ổn định dài hạn của các ngân hàng.

 

Tỷ lệ nguồn vốn này cao sẽ đảm bảo các hệ số an toàn hoạt động như hệ số CAR (tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tài sản có rủi ro), giới hạn cho vay từng khách hàng...

 

Tuy nhiên, nếu duy trì tỷ lệ nguồn vốn này quá cao cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE), khả sinh tài sản có (vốn chủ sở hữu/tổng tài sản)...

 

Ngược lại, tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp sẽ làm giảm các chỉ số an toàn hoạt động nhưng lại làm tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Tùy từng ngân hàng với các chiến lược khác nhau, tỷ lệ vốn chủ sở hữu được duy trì ở các mức độ khác nhau.

 

Thứ sáu: Các nguồn vốn khác. Nguồn vốn này thường bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, các khoản lãi phải trả, các khoản vay và nợ khác. Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng.

 

Giả định cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng thời điểm hiện tại không thay đổi so với cuối năm 2007, phân tích trường hợp của NHTM CP Ngoại thương Việt Nam dựa vào các thông số được NH công khai trong BCTC.


 Trong cơ cấu tiền gửi của khách hàng của VCB, 100 đồng thì khoảng 49% tiền gửi có kỳ hạn (tương đương 49 đồng) và gần 51% tiền gửi không kỳ hạn (tương đương 51 đồng).

 

Chi phí huy động 49 đồng này được thể hiện qua bảng sau:

 

Chi phí lãi

Chi phí dự trữ bắt buộc

Lãi nhận được từ tiền gửi dự trữ bắt buộc

Chi phí dự trữ tiền mặt

Chi phí bảo hiểm tiền gửi

Tổng

16,8%

2,1%

0,55%

0,34%

0,15%

18,88%

 

mức dự trữ bắt buộc 11% áp dụng cho các khoản tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng

lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc 5%/năm

các ngân hàng thường dự trữ 2% tiền mặt cho mục đích thanh toán

 

Tương đương giá trị 9,3 đồng

 

 

Tuy nhiên, chi phí vốn cho 51 đồng tiền gửi không kỳ hạn chỉ khoảng 1,5 đồng theo các giả định tương tự.

 

Thông thường chi phí hoạt động chiếm khoảng 1,5% tổng tiền gửi, tức 1,5 đồng. Tổng chi phí huy động bình quân khoảng 12,3 đồng, tức chi phí vốn bình quân của VCB chỉ khoảng 12,3%/năm.

 

Chi phí vốn bình quân của các NHTM cổ phần cao hơn, dao động từ 17-18%/năm.

 

Các NHTM nhà nước với cơ cấu tiền gửi không kỳ hạn cao có lợi thế rất lớn về chi phí huy động vốn.

 

Tuy lãi suất huy động tiết kiệm của VCB khoảng 16,8%/năm nhưng chi phí vốn bình quân chỉ khoảng 12,3%/năm, thấp hơn 4,5 điểm phần trăm/năm so lãi suất huy động có kỳ hạn.

 

BIDV cũng có lợi thế tương đối khi chi phí vốn bình quân của ngân hàng này chỉ khoảng 15,6%/năm, vẫn thấp hơn lãi suất huy động tiết kiệm.

 

Có lẽ chi phí vốn bình quân tương đối của các ngân hàng đã trả lời cho vấn đề giảm lãi suất cho vay và lợi thế cạnh tranh tương đối của các NHTM lớn.

 

Vì thế một số ngân hàng thương mại mặc dù giảm lãi suất cho vay xuống dưới mức lãi suất huy động nhưng vẫn đảm bảo có lãi trong hoạt động tín dụng.

 

Theo Trần Văn Hoành
TBKTSG

thaonp

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên