TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước: 'Chúng ta từng sai sót'

28-08-2009 - 14:58 PM | Tài chính - ngân hàng

Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước: 'Chúng ta từng sai sót'

Theo ông Lê Đức Thúy, những khó khăn của thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam một phần bắt nguồn từ sai sót trước đây khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.

Hôm qua, trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, lần đầu tiên ông Lê Đức Thúy trả lời báo chí nguyên nhân nội tại dẫn tới những xáo trộn trên thị trường tài chính tiền tệ trong nước nước thời gian, bên cạnh tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế thế giới.

Ông Thúy đảm nhận chức vụ hiện tại kể từ tháng 3/2008, sau 8 năm điều hành Ngân hàng Nhà nước trên cương vị thống đốc.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Mỹ có nguyên nhân rõ ràng nhất là sự mở rộng quá mức hoạt động cho vay dưới chuẩn. Nhưng với Việt Nam, những khó khăn thời gian qua bắt nguồn từ đâu, thưa ông?

Trả lời câu hỏi này là cả một câu chuyện dài. Chúng ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, trong đó hệ thống tài chính tiền tệ phải nói là nhạy cảm nhất mà cũng phức tạp nhất. Không thể nói rằng chúng ta đủ kinh nghiệm, kiến thức và khả năng quản lý hệ thống đó, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập.

Vừa qua, chúng ta có nhiều nỗ lực song cũng có sai sót, có những vấn đề tích đọng từ lâu. Ví dụ theo đuổi một mức độ tăng trưởng kinh tế cao khiến chúng ta có những áp lực chính sách, phải nới lỏng chính sách tài khoá và tiền tệ. Đó là những chất chứa bên trong mà lúc này lúc khác khi gặp hoàn cảnh nó có thể bộc lộ thành biến động xấu.

Bên cạnh đó, điều hành chính sách cụ thể từng thời điểm cụ thể cũng có những quyết sách chưa phù hợp. Và hệ thống giám sát của chúng ta chưa đủ hiệu quả để cảnh báo sớm rủi ro và xử lý một cách hiệu quả những vấn đề mới phát sinh. Những xáo trộn, đảo lộn trong thị trường tài chính tiền tệ vừa qua là khó tránh khỏi.

Nhưng tôi nghĩ chúng ta khá thành công trong quá trình phát hiện, khắc phục, chấn chỉnh nó và giữ được ổn định nền kinh tế nói chung trong bối cảnh thị trường thế giới chao đảo. Tất nhiên không thể thoả mãn với điều đó để yên trí mà không có những nỗ lực cải cách mạnh hơn.

Ông nói một phần nguyên nhân là năng lực giám sát chưa đủ hiệu quả. Vậy trong bối cảnh hiện nay, cơ quan giám sát tài chính nên có vai trò như thế nào cho phù hợp?

Mỗi nước có một hệ thống giám sát khác nhau. Ở Việt Nam hoạt động giám sát trực tiếp lĩnh vực tài chính tiền tệ được phân tách theo chức năng của từng cơ quan. Ngân hàng Nhà nước làm nhiệm vụ thanh tra và giám sát hoạt động của các tổ chức tiền tệ tín dụng.

Bộ Tài chính mà dưới đó là Uỷ ban chứng khoán Nhà nước giám sát thanh tra hoạt động của thị trường chứng khoán và các công ty kinh doanh chứng khoán. Bộ Tài chính còn có Cục Bảo hiểm, chịu trách nhiệm thanh tra giám sát hoạt động bảo hiểm.

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia là cơ quan mới thành lập, chưa có chức năng trực tiếp giám sát từng định chế tài chính, chỉ tham mưu cho Thủ tướng giám sát tổng thể thị trường, cảnh báo sớm rủi ro và khuyến nghị những việc cần chấn chỉnh để hoạt động giám sát trực tiếp chuyên ngành đạt hiệu quả cao hơn, qua đó duy trì lành mạnh nền tài chính nói chung.

Bên cạnh đó, Ủy ban giám sát tài chính tiền tệ quốc gia còn làm nhiệm vụ tham mưu chính sách vĩ mô, chủ yếu là chính sách tiền tệ. Trong tương lai, Ủy ban sẽ làm thêm chức năng gì còn tuỳ thuộc vào sự kiểm nghiệm trên thực tế mô hình nào là hợp lý nhất.

Hinh thức hoạt động hiện nay của các cơ quan giám sát tài chính chưa phải là hoàn thiện, cần được bổ sung, điều chỉnh. Và thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất để chúng ta lựa chọn mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ và sự phối hợp của các cơ quan trong hệ thống giám sát.

Từ thực tế hai năm thành lập và đi vào hoạt động, theo ông mô hình nào phù hợp với Ủy ban Giám sát Tài chính tiền tệ Việt Nam?

Quyết định thành lập Ủy ban Giám sát Tài chính Tiền tệ Việt Nam có từ năm ngoái, song phải mất thời gian hình thành bộ máy. Chúng tôi đang trong thời kỳ sắp xếp lực lượng và bố trí nhân lực để có thể làm được những việc Thủ tướng giao.

Chúng tôi đang tập hợp dữ liệu về hoạt động của các định chế tài chính, nhằm trở thành trung tâm cung cấp thông tin độc lập và phân tích, đánh giá rủi ro cho hoạt động đó. Công việc đang tiến triển tương đối tốt, nhờ sự cộng tác của các bộ ngành và định chế tài chính.

Dữ liệu đó đang được xử lý để cho ra báo cáo khá hoàn chỉnh về thị trường tài chính giống như những gì mà các cơ quan giám sát vĩ mô các nước thường đưa ra. Chúng tôi hy vọng báo cáo đó sẽ đáp ứng phần nào kỳ vọng về hoạt động của ủy bán giám sát. Nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót, vì giới hạn về thời gian và nhân lực.

Khi họp bàn về dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, nhiều ý kiến cho rằng chức năng giám sát nên nằm trong chính những cơ quan liên quan, chẳng hạn giám sát tiền tệ nên thuộc Ngân hàng Nhà nước, bởi chính những cơ quan đó có phản ứng nhanh nhất khi các định chế tài chính trong hệ thống của mình có vấn đề. Đề nghị cho biết quan điểm của mình?

Việt Nam hiện tách bạch chức năng giám sát chuyên ngành của từng cơ quan quản lý được giao nhiệm vụ. Nhưng, vấn đề nằm ở chỗ ngay cả các cơ quan chuyên ngành vẫn đang bỏ trống việc giám sát hợp nhất toàn thị trường và những rủi ro chéo, phát sinh.

Mỗi định chế tài chính có thể tham gia vào các lĩnh vực khác nhau, nhưng khi giám sát thì từng cơ quan chuyên ngành lại chỉ đi theo mảng của mình theo dõi. Và có những rủi ro vĩ mô, vượt ra khỏi rủi ro vi mô của từng định chế tài chính, phải có sự giám sát ở mức cao hơn.

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia hiện nay chỉ là cơ quan tham mưu cho Thủ tướng về hoạt động thanh tra giám sát. Thủ tướng mới giao cho Ủy ban giám sát rủi ro tổng thể hợp nhất nhưng không can thiệp trực tiếp vào từng định chế tài chính. Tuy vậy, chức năng giám sát của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia có cao hơn hay không vẫn cần sự phối hợp của các cơ quan giám sát chuyên ngành.

Dù hệ thống giám sát nào thì đối tượng vẫn là toàn thể thị trường và những dịch vụ của thị trường tài chính. Mô hình tổ chức có thể khác nhau, tuỳ mỗi nước. Xu hướng trong những năm gần đây là nhiều nước bắt đầu hình thành nên cơ quan giám sát hợp nhất và tập hợp về đấy chức năng giám sát chuyên ngành của cơ quan chuyên ngành về tài chính.

Đó cũng chưa phải là mô hình phổ biến, nhưng là phản ứng trước thực tế là thị trường có những rủi ro chung và đan chéo nhau mà những cơ quan chuyên ngành có thể không đủ khả năng phát hiện ra và xử lý được.

Lãnh đạo các nước phải nghiên cứu tìm ra mô hình thích hợp nhất cho hoạt động giám sát thị trường tài chính, tiền tệ có hiệu quả. Tôi không bảo vệ rằng nhất thiết phải có uỷ ban giám sát tài chính tiền tệ quốc gia.

Trong điều kiện kinh tế nhạy cảm như hiện nay lại tồn tại các ý kiến trái chiều về chính sách tiền tệ. Người nói nên để dòng tiền chảy tự do theo nhu cầu của nền kinh tế, ngược lại có ý kiến cho rằng nên kiểm soát để phòng ngừa nguy cơ tái lạm phát.

Có ý kiến cho rằng nên nới tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu, còn người khác nói như hiện nay là hợp lý. Theo ông sự trái chiều nhau về quan điểm nói lên điều gì và Việt Nam nên chọn hướng đi nào hợp lý nhất?

Đúng là hiện nay có những ý kiến trái chiều về chính sách vĩ mô, và chuyện đó cũng bình thường. Tôi nghiên cứu về chính sách kinh tế vĩ mô, đương nhiên tôi có những suy nghĩ của tôi và những đề xuất về chính sách.

Có những cái tôi đã nói ở mức độ có thể được tôi đã nói trên phương tiện truyền thông đại chúng, có những cái thuộc về cá nhân nhạy cảm trong việc điều hành tôi không thể nói một cách tuỳ tiện theo quan điểm của mình trước khi được những người có trách nhiệm tiếp thu và chỉnh sửa.

Những ví dụ như điều chỉnh hạn mức tín dụng, hay chấn chỉnh hoạt động của thị trường ngoại hối, tôi đã từng phát biểu và chưa có ý kiến mới hơn đến thời điểm này.

Theo Song Linh
Vnexpress

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên