TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nút thắt vẫn là tỷ giá

22-04-2011 - 10:37 AM | Tài chính - ngân hàng

Nút thắt vẫn là tỷ giá

Hai ví dụ đưa ra để minh chứng cho việc khi lạm phát tăng cao, việc điều hành tỷ giá cứng nhắc sẽ gây bất lợi cho hoạt động sản xuất trong nước.

Gần đây, nhiều giải pháp đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cùng các cơ quan khác đưa ra nhằm ngăn chặn tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế mà theo nhiều người nó chính là một trong những thủ phạm gây ra tình trạng bất ổn vĩ mô hiện nay. Tuy nhiên, sự hỗn loạn của vàng và đô la chỉ là hậu quả chứ không phải nguyên nhân của bất ổn vĩ mô.

Thực ra, nút thắt cơ bản của bài toán ngoại tệ ở Việt Nam là do việc theo đuổi chính sách tỷ giá cứng nhắc làm cho đồng tiền trong nước luôn bị định giá cao gây bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bên ngoài.

Do vậy, giả sử từ nay đến cuối năm 2011, bằng các biện pháp của mình, NHNN sẽ ngăn chặn được tình trạng đô la hóa và giữ được tỷ giá đô la Mỹ/đồng Việt Nam (USD/VND) ở mức 21.000 (tương đương với mức tỷ giá trên thị trường tự do cuối năm 2010) trong bối cảnh lạm phát cả năm có thể lên đến 13,3% như dự báo của ADB thì bài toán ngoại tệ có khả năng trở nên nghiêm trọng hơn so với xu hướng ngược lại. Hai ví dụ dưới đây sẽ chứng minh cho điều này.

Xuất khẩu sẽ khó khăn hơn

Giả sử chi phí nhập khẩu chiếm 50% chi phí sản xuất sản phẩm cá ba sa xuất khẩu hiện nay của Việt Nam. Đồng thời, cũng giả sử một sản phẩm nào đó có chi phí sản xuất 10 đô la (5 đô la nhập khẩu và 105.000 đồng chi phí trong nước) và sẽ bán được với giá 10,5 đô la. Như vậy mức lợi nhuận sẽ là 5%.

Điều gì sẽ xảy ra nếu trong năm 2011 các chi phí hay giá cả đầu vào trong nước tăng khoảng 13%, trong khi chi phí nhập khẩu cũng như giá xuất khẩu chỉ tăng 2%?

Chi phí đầu vào lúc này là sẽ =(105.000 đồng x 1,13) + [(5 đô la x 21.000 đồng) x 1,02] = 225.750 đồng; và doanh thu từ xuất khẩu = 10,5 đô la x 1,02 x 21.000 = 224.910 đồng.

Tính ra, từ có lãi 5% nhưng do tỷ giá cố định trong khi lạm phát trong nước quá cao so với bên ngoài đã làm cho xuất khẩu cá ba sa của Việt Nam bị lỗ (cụ thể là 840 đồng hay 0,37%). Nói một cách tổng quát là hoạt động xuất khẩu nói chung của Việt Nam sẽ trở nên khó khăn hơn.

Sản xuất tiêu thụ trong nước sẽ gặp bất lợi

Giả sử trong nước có hai doanh nghiệp sản xuất tăm tre y như nhau (một của Việt Nam và một của Trung Quốc), năm 2010 cùng bán tăm trên thị trường Việt Nam với giá 31.500 đồng (tương đương với 10,5 nhân dân tệ hay RMB) cho một lô tăm, và suất sinh lợi của cả hai doanh nghiệp đều là 5% (1.500 đồng hay 0,5 RMB). Toàn bộ chi phí sản xuất của mỗi doanh nghiệp đều từ trong nước.

Điều gì sẽ xảy ra nếu năm 2011, đồng nhân dân tệ lên giá 2% so với đồng đô la và tỷ giá USD/VND vẫn là 21.000, trong khi mức tăng giá đầu vào ở Trung Quốc là 5% và ở Việt Nam là 13%?

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, chi phí đầu vào lúc này sẽ = 30.000 đồng x 1,13 = 33.900 đồng. Để đảm bảo suất sinh lợi 5% như cũ thì giá bán cũng phải tăng 13% hay giá một lô tăm sẽ = 31.500 đồng x 1,13 = 35.595 đồng.Đối với doanh nghiệp Trung Quốc, chi phí sản xuất một lô tăm lúc này sẽ = (10 RMB x 1,05 = 10,5 RMB và do đồng nhân dân tệ lên giá 2%, nên tỷ giá giữa RMB/VND = 3.000 x 1,02 = 3.060, vì vậy doanh thu tính ra RMB sẽ là: 35.595/3.060 = 11,63 RMB. Tính ra, lợi nhuận của công ty Trung Quốc sẽ là 1,13 RMB, hay suất sinh lợi sẽ là 11% thay vì 5% như năm ngoái.

Trong trường hợp chỉ muốn suất sinh lợi là 5% như cũ, thì doanh nghiệp Trung Quốc chỉ cần bán tăm trên thị trường Việt Nam ở mức 33.737 đồng/lô. Với giá này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ lỗ 764 đồng hay khoảng 2% so với doanh thu. Điều này có nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam đã bị đẩy vào thế bất lợi trên chính sân nhà của mình.

Từ hai ví dụ nêu trên cho thấy, khi lạm phát trong nước ở mức rất cao so với thế giới bên ngoài, việc điều hành tỷ giá một cách cứng nhắc sẽ gây bất lợi cho hoạt động sản xuất trong nước (cả xuất khẩu và tiêu thụ nội địa) và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng nhập khẩu.

Hậu quả của chính sách này là hàng hóa xuất khẩu hay tiêu thụ trong nước của Việt Nam sẽ bị giảm đi do chi phí sản xuất tăng cao, nhiều doanh nghiệp trong nước sẽ buộc phải giảm quy mô sản xuất, thậm chí là đóng cửa và từ bỏ hoạt động kinh doanh; trong khi tăm tre hay các loại hàng hóa rẻ tiền khác từ Trung Quốc cũng như hàng hóa của các nước khác lại được tạo điều kiện thuận lợi hơn để tràn ngập thị trường Việt Nam.

Tóm lại, việc điều hành tỷ giá cứng nhắc trong thời gian qua đã làm cho thâm hụt thương mại cũng như căng thẳng ngoại tệ ngày một trầm trọng hơn. Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam cần phải kéo lạm phát đi xuống (ít nhất là tương đương với các đối thủ cạnh tranh chính của mình), đồng thời có một chính sách điều hành tỷ giá hợp lý để, ít nhất, không gây bất lợi cho các chính doanh nghiệp của mình.

Theo Huỳnh Thế Du
TBKTSG


phuongmai

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM