Số ngân hàng thương mại cổ phần lên đến 84
ngân hàng năm 1997 và được sắp xếp lại còn 35 ngân hàng thương mại cổ
phần tính đến ngày 15-6-2012 (nguồn: Ngân hàng Nhà nước), tỷ lệ tín dụng
trên GDP đã từ 35% năm 2000 tăng vọt lên 125% năm 2010 (nguồn: Ngân
hàng Thế giới), một tỷ lệ thuộc loại cao nhất khu vực.
Sự phát triển vũ bão này đã góp phần cho sự tăng trưởng thần kỳ của nền
kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua như công cụ chủ yếu thu xếp
vốn. Tuy nhiên, với thời gian và những biến động theo hướng tiêu cực của
thị trường thế giới, những lỗ hổng to tướng trong hệ thống ngân hàng
Việt Nam đã lộ ra và gây những hậu quả ghê gớm. Lỗ hổng lớn nhất chính
là tình trạng sở hữu chéo, tạo vốn ảo, dẫn đến sự vô trách nhiệm trong
đầu tư bằng tiền gửi xã hội.
Một nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright công bố mới
đây về sở hữu chéo giữa NH với doanh nghiệp (DN) tại Việt Nam cho thấy
hệ thống NH đã hình thành một mạng lưới sở hữu chéo và cho vay theo quan
hệ rất phức tạp, nhằm mục đích thâu tóm ngân hàng, thu xếp vốn cho
những dự án đầu tư chưa minh bạch.
Theo đó, rất nhiều công ty lớn, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế Nhà
nước và các tập đoàn cổ phần, dù không thuộc lĩnh vực tài chính nhưng
hiện đang đầu tư dài hạn với vai trò nhà sáng lập, nhà đầu tư chiến lược
trong các NH thương mại. Chưa kể, các NH cũng sở hữu cổ phần lẫn nhau,
cổ đông tại các NH thương mại là các công ty quản lý quỹ đầu tư vốn vào
những NH khác có tiềm năng.
Hiện không ít tập đoàn, tổng công ty Nhà
nước và tư nhân cũng đang đầu tư, sở hữu chéo khi họ có trong tay khá
nhiều NH. Theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội, đến nay, gần 40 DN Nhà nước và
tư nhân sở hữu trên 5% tại các NH TMCP và các DN này lại sở hữu các công
ty đầu tư tài chính. Vì vậy, mối quan hệ giữa NH TMCP với các tập đoàn
tư nhân ngày càng phức tạp.
Những thủ đoạn lách luật nguy hiểm
Theo các chuyên gia, không ít DN "sân sau" thời gian qua không chỉ vay
hàng nghìn tỷ đồng từ NH mà còn tham gia với các ông chủ ngân hàng có
quyền điều hành hay chi phối các quyết định của tổ chức tín dụng có lợi
cho mình, gây tiềm ẩn rủi ro cho TCTC.
Không ít lãnh đạo các NH đã tận
dụng DN "sân sau" để giúp tăng vốn. Khi đó DN có vốn góp lớn của các ông
chủ ngân hàng sẽ đứng ra phát hành trái phiếu kỳ hạn 3-5 năm. Sau đó,
ngân hàng của các ông chủ trên sẽ bỏ tiền ra mua trái phiếu của DN. Khi
đã có tiền, DN này sẽ sử dụng vốn đó góp vào đúng ngân hàng vừa bỏ tiền
ra mua trái phiếu của mình để tăng vốn điều lệ. Như vậy, vốn điều lệ
ngân hàng ghi trên sổ sẽ cao nhưng thực tế đó là vốn ảo. Có quyền lực
trong tay các ông chủ ngân hàng tiếp tục lũng đoạn qua việc bơm vốn vào
các DN "sân sau"...
Trên thực tế, việc tăng vốn ảo đã giúp không ít ông
chủ ngân hàng cùng một lúc sở hữu 2-3 NH và đẩy vốn vào lĩnh vực đầu tư
bất động sản, dẫn đến khó khăn về thanh khoản cho những ngân hàng nhỏ.
Trong ba năm qua hàng loạt các NHTMCP đã nâng vốn pháp lý lên 3000 tỷ
đồng. Nhưng trên thực tế, gần như không có đồng vốn mới nào bổ sung vào
hệ thống ngân hàng, nhưng do vốn pháp lý tăng, các ngân hàng được phép
huy động tiền gửi xã hội lớn hơn và hàng nghìn tỷ đồng vốn lại được trút
vào những dự án sân sau của chính các ông chủ ngân hàng để vòng quay
thâu tóm ngân hàng tiếp diễn.
Hệ lụy của sở hữu chéo và thâu tóm ngân hàng
Với phương thức sở hữu chéo, các ngân hàng có thể "lách" thông qua việc
vay vốn từ ngân hàng này góp cho ngân hàng kia và ngược lại. Như vậy, sự
tăng vốn ở các ngân hàng thực chất là tăng ảo. Nhiều trường hợp lại
tăng vốn qua trung gian. Đã và đang diễn ra tình trạng dòng tiền trôi
lòng vòng trong thị trường liên NH, trong khi DN không tiếp cận được vốn
vay.
Theo vòng luẩn quẩn này, dòng tiền cứ chảy lòng vòng giữa các NH, công
ty với nhau rồi tuồn vào bất động sản, chứng khoán… Đến khi thị trường
bất động sản đóng băng, chứng khoán sụt giảm mạnh và kéo dài cũng là lúc
các công ty ủy thác đầu tư thua lỗ, tạo ra những khoản nợ xấu cho chính
các NH.
Chẳng hạn theo báo cáo tài chính 2011, một ngân hàng thuộc nhóm
3, dư nợ tín dụng cuối năm 2011 khoảng 13.000 tỷ đồng nhưng tổng số vốn
cung cấp cho các DN liên quan đến cổ đông là 2.035 tỷ đồng. Ngoài ra
gần 1.000 tỷ đồng vốn của ngân hàng này cũng đang được cho các cá nhân
liên quan vay. Hay một ngân hàng khác, tổng dư nợ cho vay đạt hơn 8.854
tỷ đồng. Trong đó, 2.510 tỷ đồng (chiếm 28% tổng dư nợ) có đích đến là
các DN liên quan đến cổ đông của ngân hàng này.
Theo các chuyên gia, đáng lo ngại nhất là, tình trạng sở hữu chéo giữa
các ông chủ NH và các công ty sân sau sẽ đe dọa tính an toàn của cả hệ
thống.
Đã có luật nhưng chế tài chưa đủ
Điều 118 của Luật Doanh nghiệp quy định, các đối tượng là thành viên
HĐQT, ban kiểm soát, ban tổng giám đốc và những người có liên quan
(người thân) phải công bố về tỷ lệ sở hữu của mình và người có liên quan
ở các tổ chức khác, dù tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn hay nhỏ; đồng thời phải
công bố lợi ích có liên quan.
Ngoài ra, để chống chuyển giá, Luật Thuế
yêu cầu doanh nghiệp phải tự công bố tất cả lợi ích thuế có liên quan
đến ban tổng giám đốc doanh nghiệp đó. Như vậy, có những quy định pháp
lý rất cụ thể để cổ đông, nhà đầu tư và thị trường có thể giám sát được
vấn đề sở hữu chéo và các lợi ích liên quan đến sở hữu chéo.
Tuy nhiên,
thực tế trong thời gian qua trên thị trường không có doanh nghiệp hay cá
nhân nào công bố những thông tin này và cũng không có ai giám sát để xử
phạt vi phạm trong lĩnh vực này. Theo TS Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ
tịch Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, quản lý các DN "sân sau" không
khó. Điều quan trọng là Ngân hàng Nhà nước có quyết liệt thanh tra, kiểm
tra và xử lý hay không.
Luật các tổ chức tín dụng hiện hành có quy định về giới hạn tỉ lệ sở hữu
cổ phần: một cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ
của một tổ chức tín dụng; một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt
quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng, trừ một số trường hợp đặc
biệt; cổ đông và những người liên quan của cổ đông đó không được sở hữu
vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng. Nhưng trên thực tế
việc giám sát quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần vẫn bị buông
lỏng dẫn đến những kẻ lợi dụng vốn ảo thâu tóm ngân hàng.
Có thể nói hệ thống ngân hàng là “mạch máu”, là “bộ não” của nền kinh
tế, trước thực trạng buông lỏng quản lý ngân hàng dẫn đến những hành vi
vi phạm trong thời gian vừa qua, dư luận cho rằng đã đến lúc cần thực
hiện khẩn cấp những giải pháp chống sở hữu chéo, thâu tóm ngân hàng để
chiếm đoạt vốn xã hội.
Cần đẩy mạnh các hoạt động mua bán, sáp nhập ngân
hàng theo đúng quy định pháp luật cũng như chủ trương tái cơ cấu hệ
thống ngân hàng. Phần sở hữu chéo nên được nhượng lại cho các trung gian
độc lập, ưu tiên kêu gọi đầu tư của các định chế tài chính, ngân hàng
nước ngoài. Sớm hoàn thiện các quy định hiện nay liên quan đến mua bán,
sáp nhập, thâu tóm ngân hàng, trong đó có quy định về giới hạn tỉ lệ sở
hữu cổ phần theo hướng hạn chế, loại trừ các hành vi sử dụng “sân sau”
để nắm giữ số cổ phần quá giới hạn cho phép.
Tất nhiên, trước khi tiến
hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng cần làm một việc cực kỳ quan trọng là
loại ngay vốn ảo ra khỏi thị trường vốn, chỉ có vốn thật, có nguồn gốc
sạch mới có thể được chuyển nhượng, cơ cấu, nghiêm trị những kẻ sử dụng
vốn ảo để sở hữu những nguồn vốn không phải của mình.
Theo Việt Trần
ANTĐ