TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại

05-11-2009 - 08:18 AM | Tài chính - ngân hàng

Tái cơ cấu các ngân hàng thương mại

Với cơ cấu tài sản và sản phẩm như hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam rất dễ bị tổn thương.

Kinh nghiệm cho thấy, khi suy thoái hay khủng hoảng thì chính là lúc mà một nền kinh tế nói chung hay hệ thống ngân hàng nói riêng bộc lộ rõ các điểm yếu, điểm mạnh của nó, và đây là cơ hội để điều chỉnh một cách tổng thể. Vì thế, các quan điểm cải cách cho rằng, khủng hoảng tài chính sẽ thúc đẩy cải cách và là cơ hội tốt để một ngân hàng hay một hệ thống ngân hàng tiến hành cơ cấu lại.

Cơ hội trong suy thoái kinh tế

Ở Việt Nam, các bộ, ngành và Chính phủ đang đẩy mạnh những cuộc bàn thảo để cho ra được một kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế một cách tốt nhất. Nếu nhìn vào thực trạng của hệ thống ngân hàng Việt Nam và sự thay đổi của môi trường trong nước và quốc tế thì khu vực kinh tế quan trọng này của Việt Nam cũng cần phải được cơ cấu lại.

Một trong những yếu kém đáng chú ý nhất của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam là sự tăng trưởng một cách không cân đối trong nhiều năm. Sự mất cân đối này cần được nhìn nhận cả trên phương diện vĩ mô và vi mô. Sự tăng trưởng nhanh về quy mô và vốn trong khi các thiết chế quản lý chưa theo kịp là các vấn đề nội tại của khu vực này. Sự mất cân đối này thể hiện ở nhiều yếu tố.

Yếu tố đầu tiên phải kể đến là tăng trưởng tín dụng nóng. Kinh tế Việt Nam vẫn được coi là nền kinh tế tăng trưởng dựa nhiều vào vốn; chỉ số ICOR tăng cao trong nhiều năm qua cho thấy rõ đặc điểm này.

Yếu tố mất cân đối thứ hai là mở rộng quy mô quá mức. Thống kê cho thấy, những năm 1990, tín dụng cho nền kinh tế bằng khoảng 18% GDP, tuy nhiên đến nay (năm 2009) quy mô tín dụng đã đạt gần 100% GDP.

Yếu tố tiếp theo là quản lý thanh khoản bất cập. Cơ cấu nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng có tới 80% tổng nguồn vốn là có kỳ hạn dưới 1 năm; chỉ có 20% tổng nguồn vốn là có kỳ hạn trên 1 năm (trong đó kỳ hạn trên 2 năm chưa tới 10%). Trong khi đó cơ cấu cho vay phổ biến tại các ngân hàng thương mại Việt Nam là gần 60% tổng dư nợ cho vay với thời hạn cho vay trên 1 năm.

Yếu tố cuối cùng cần phải đề cập tới là tình trạng “vốn mới - quản trị cũ” tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Đến nay, nhìn chung các ngân hàng này vẫn hoạt động theo mô hình quản trị công ty đã cũ (nhất là các NHTM cổ phần nông thôn vừa được nâng cấp). Các NHTM quốc doanh vừa mới cổ phần hóa và niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán nhưng mô hình quản trị vẫn giữ nguyên như ngân hàng thương mại quốc doanh ngày xưa do mức độ cổ phần hóa quá ít (Vietcombank chỉ bán cổ phần ra ngoài tương đương 9,28% vốn điều lệ; con số này ở Vietinbank là 4%).

Cơ cấu lại khu vực ngân hàng Việt Nam

Khu vực ngân hàng là một cấu phần quan trọng của nền kinh tế nên việc cơ cấu lại cần được nhìn nhận trên phương diện tổng thể. Do đó, nội dung và trọng tâm cơ cấu lại khu vực ngân hàng Việt Nam hiện nay không chỉ từ góc độ vi mô (từng ngân hàng) mà cả từ góc độ vĩ mô (Nhà nước/Chính phủ).

Trước tiên, trên phương diện vĩ mô, vấn đề mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng cần phải được “cơ cấu lại” theo hướng mới là không nên đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao bằng mọi giá mà thay vào đó là một mức tăng trưởng hợp lý, bền vững.

Cũng trên phương diện vĩ mô, cần phải cơ cấu lại hệ thống luật pháp tài chính, ngân hàng. Hiện Luật các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các quy định khác đang được xem xét sửa đổi một cách cơ bản. Việc cơ cấu lại NHNN cũng nên được đặt ra theo lộ trình sửa đổi Luật NHNN, để đảm bảo cơ quan này hoạt động theo đúng chức năng của một ngân hàng trung ương hiện đại.

Ngoài ra, cũng cần tăng cường quản trị, quản lý đối với cả hệ thống ngân hàng trên phương diện vĩ mô và vi mô. Đến nay, vốn tự có của các NHTM đã được cải thiện đáng kể (hầu hết các NHTM có tỷ lệ an toàn vốn đạt và vượt 8%). Tuy nhiên vấn đề quản trị và quản lý đã và đang đặt ra yêu cầu cơ cấu lại.

Về phương diện vi mô, các ngân hàng cần tiến hành cơ cấu lại thị trường, sản phẩm và cơ cấu tài sản cho phù hợp với năng lực quản lý của mình, đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững. Với cơ cấu tài sản và sản phẩm như hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam rất dễ bị tổn thương (như năm 2008). Đối với các NHTM Nhà nước vừa mới cổ phần hóa cần tập trung cải thiện quản trị tại ngân hàng này theo chuẩn quốc tế vì nơi đây tập trung nguồn lực lớn của Nhà nước, coi đây là hình mẫu về quản trị ngân hàng hiện đại ở Việt Nam.

Về mặt nhân sự, cần nâng cao trình độ quản lý của cấp lãnh đạo; cải thiện kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ của cả hệ thống.

Theo Ts Lê Văn Hinh

DDDN

thanhhuong

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM