TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tiền mua trái phiếu Chính phủ là một cấu phần tín dụng

28-11-2012 - 11:40 AM | Tài chính - ngân hàng

Tiền mua trái phiếu Chính phủ là một cấu phần tín dụng

“Trên Bảng cân đối tiền tệ toàn ngành Ngân hàng, tổng số tiền trái phiếu Chính phủ mà các TCTD và cả NHNN nắm giữ được tính là cho vay đối với Chính phủ, một cấu phần của tín dụng trong nước”.

Đó là ý kiến của TS. Nguyễn Thị Thanh Hương, Tổng biên tập Tạp chí Ngân hàng trong buổi trả lời phỏng vấn mới đây với chúng tôi.

Có thể chỉ dùng một phép tính đơn giản cộng trừ để đánh giá về tình hình sử dụng vốn của một ngân hàng thương mại không?


Về cơ bản, những khoản mục lớn thì có thể ước tính như vậy. Tuy nhiên, để phản ánh trung thực, nhất là trong điều kiện kinh doanh ngân hàng thương mại (NHTM) có sự biến chuyển nhanh thì cần xem xét, nghiên cứu chi tiết hơn. Không nhất thiết ở bất cứ thời điểm nào khi đánh giá cũng sử dụng cố định các tỷ lệ.

Ví dụ, những năm trước đây, tính ổn định của nguồn vốn huy động cao hơn, và độ chênh lệch kỳ hạn (thời gian) giữa nguồn vốn và sử dụng vốn không lớn so với năm 2011-2012 thì tỷ lệ dự trữ thanh toán của các NHTM (bao gồm cả dự trữ bắt buộc và dự trữ dư thừa bằng tiền mặt tại ngân hàng, tiền gửi thanh toán tại các tổ chức tín dụng khác) có thể chỉ cần 5% tổng tài sản là đủ, nhưng bây giờ tỷ lệ dự trữ thanh toán của các NHTM phải ở tỷ lệ cao hơn, có thể ở 7% chẳng hạn. Hơn nữa, tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của các NHTM Việt Nam trước 2012 là rất cao, trên 100%.

Đến nay, tỷ lệ tín dụng VND/huy động vốn VND được cải thiện rõ rệt, từ mức trên 100% vào tháng 01/2012 xuống dưới 99% đến ngày 25/10/2012, và đang tiếp tục hạ thấp hơn. Để an toàn, hạn chế rủi ro thanh khoản, các NHTM Việt Nam cần điều chỉnh tỷ lệ này xuống dưới 90%. Thông lệ quốc tế về an toàn hoạt động ngân hàng, trong đó chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi ở ngưỡng khoảng 80%.

Vừa qua có ý kiến cho rằng tiền mà các tổ chức tín dụng (TCTD) mua trái phiếu chính phủ và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh không được tính vào tăng trưởng dư nợ của ngân hàng, ý kiến này có đúng không?

Ý kiến này không đúng. Trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh phát hành ở trong nước thì cũng là vay trực tiếp tiền từ tổ chức kinh tế và dân cư hoặc vay gián tiếp qua các TCTD. Trên Bảng cân đối tiền tệ toàn ngành Ngân hàng, tổng số tiền trái phiếu Chính phủ mà ngành Ngân hàng (bao gồm các TCTD và cả NHNN) nắm giữ được tính là cho vay đối với Chính phủ, một cấu phần của tín dụng trong nước.

Bà bình luận gì về ý kiến rằng ngân hàng đang sử dụng phần lớn tiền huy động của dân để đảm bảo thanh khoản, đảm bảo sự an toàn của chính họ, bất chấp doanh nghiệp giải thể, phá sản?

Ngân hàng cần phải và bắt buộc phải hoạt động an toàn vì lợi ích của cả nền kinh tế, vì lợi ích của người gửi tiền. Nếu ngân hàng hoạt động không an toàn sẽ có nhiều hệ lụy lớn đối với Ngành, đối với người gửi tiền, đối với nền kinh tế. Khủng hoảng ngân hàng thường dẫn đến khủng hoảng toàn bộ nền kinh tế. Trong tổng tài sản của ngân hàng, vốn điều lệ chỉ khoảng 5%-7%, khoảng 50% vốn điều lệ là đầu tư cho hạ tầng cơ sở vật chất hoạt động ngân hàng rồi.

Tăng trưởng tín dụng thấp trong 10 tháng đầu năm có phải hoàn toàn do lỗi (lãi suất cao, kén chọn khách hàng…) của ngân hàng không?

Tăng trưởng tín dụng thấp (tính đến ngày 31/10/2012, tín dụng tăng 3,48% so cuối năm 2011) cũng như tình trạng nợ xấu cao (8,62% theo công bố của NHNN) trong ngành Ngân hàng hiện nay không hoàn toàn do lỗi của các ngân hàng.

Về phía các TCTD, sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng ở mức cao, đến nay để thực hiện tái cơ cấu, các TCTD phải vừa tích cực huy động vốn, vừa giảm tốc độ tăng tín dụng để cơ cấu lại tài sản có, tài sản nợ theo hướng lành mạnh, đảm bảo khả năng chi trả, các TCTD, nhất là NHTM cổ phần cẩn trọng hơn trong việc lựa chọn khách hàng mới, hạn chế cho vay đối với một số ngành nghề kinh doanh đang gặp khó khăn, khách hàng yếu kém, không có tiềm năng phát triển.

Tất nhiên, các TCTD có phần lỗi như quản trị ngân hàng yếu kém, do tình trạng sở hữu chéo, rủi ro đạo đức…Nhưng nguyên nhân gốc, quan trọng hơn, lớn hơn là từ yếu kém của khu vực nền kinh tế thực Việt Nam (cả về các chính sách kinh tế; về quản trị DN, nhất là quản trị DNNN); từ ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam. Do sức cầu trong nước và cầu nước ngoài yếu, hàng tồn kho tăng cao, thị trường tiêu thụ khó khăn nên doanh nghiệp giảm nhu cầu vay vốn; một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nên không đủ điều kiện vay vốn; trong điều kiện kinh tế khó khăn, người dân hạn chế chi tiêu và giảm nhu cầu vay vốn tiêu dùng.

Tóm lại, nguyên nhân chính quyết định việc tăng trưởng tín dụng thấp hiện nay là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế yếu.

Theo tôi, nếu khu vực nền kinh tế thực không được tái cấu trúc tốt, tìm cách tăng trưởng tín dụng mà không dựa trên tiềm năng thực của doanh nghiệp, của nền kinh tế, tăng trưởng tín dụng lại sẽ tích thêm nợ xấu mà thôi.

Vừa qua ông Bùi Kiến Thành đề xuất Ngân hàng Nhà nước (NHNN ) nên cho NHTM vay với lãi suất 3%, và chỉ đạo các NHTM cho doanh nghiệp vay 7%. Vậy có cơ chế nào cho phép NHNN thực hiện như vậy không?, nếu có thì tại sao NHNN chưa thực hiện?

Đây là một đề xuất cũng đáng chú ý và theo tôi là có tính khả thi. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng hỗ trợ phát triển kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ trong từng thời kỳ. Nhưng điều kiện áp dụng và cơ chế cụ thể áp dụng cần phải tính kỹ, cụ thể hơn để dòng vốn rẻ không bị nhóm lợi ích trục lợi, không bị đưa vào những khu vực không khuyến khích (ví dụ tạo thêm bong bóng bất động sản, bong bóng chứng khoán) và tốn ít chi phí hành chính.

Năm 2008, Chính phủ Việt Nam cũng đã hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp nhưng cơ chế vận hành không tốt và kết quả của việc hỗ trợ lãi suất đã rất hạn chế, trong khi đó sinh thêm nhiều gánh nặng về chi phí hoạt động và nguy cơ rủi ro đạo đức cán bộ trong hệ thống ngân hàng, cũng như ở các doanh nghiệp.

Điều kiện hiện nay không thuận lợi cho việc thực hiện đề xuất của ông Bùi Kiến Thành như: hệ thống ngân hàng còn một số ngân hàng yếu kém; tình trạng sở hữu chéo…; quản trị ở rất nhiều doanh nghiệp, nhất là ở các DNNN, ở khu vực nền kinh tế thực chưa tốt; việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hiện nay chưa đạt được những kết quả căn bản. Bên cạnh đó, vốn cho vay từ NHNN chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ để hỗ trợ, còn nguồn vốn chính để cho vay nền kinh tế phải là từ nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức. Có thể đây chính là những nguyên nhân mà NHNN chưa định hướng sử dụng giải pháp trên.

Khôi Nguyên (thực hiện)


hangnt

Theo Trí thức trẻ

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên