TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Trò chơi chuyển dịch rủi ro

24-08-2008 - 00:00 AM | Tài chính - ngân hàng

Trò chơi chuyển dịch rủi ro
Khách hàng giao dịch tại chi nhánh của HSBC tại TPHCM

Ngân hàng nước ngoài được tiếp cận nguồn vốn giá rẻ hơn và có danh mục cho vay an toàn hơn. Và ở đây, xuất hiện “trò chơi chuyển dịch rủi ro” về cho các ngân hàng nội địa.

Vậy ra, nguồn vốn rẻ và ổn định mà ngân hàng nước ngoài thu được, không nhất thiết chỉ xuất phát từ chính sách marketing của họ, mà chính ra là từ thương hiệu và việc người ta nhận định ngân hàng nước ngoài an toàn hơn.

Gần đây, có ý kiến cho rằng ngân hàng nước ngoài thành công hơn ngân hàng Việt Nam trong việc bảo đảm nguồn vốn và thanh khoản là do ngân hàng nước ngoài chú trọng chính sách khách hàng về phát triển nguồn vốn chi phí thấp, ổn định đồng thời quy trình quyết định cho vay và kiểm soát các khoản vay chặt chẽ hơn.

Ý kiến này có thể phản ánh đúng một phần của bức tranh về sự khác biệt trong hoạt động giữa ngân hàng ngoại và nội, nhưng e rằng chưa đủ để nói lên hết tất cả vấn đề của câu chuyện này.

Ngân hàng nước ngoài có lợi thế nhờ “mác ngoại”

Một điều mà nhiều người làm ngành ngân hàng có thể dễ dàng nhận ra là có một sự phân hóa khách hàng rất rõ ràng giữa khối ngân hàng ngoại và nội. Ngân hàng nước ngoài chiếm thị phần rất lớn trong khối khách hàng là các tập đoàn đa quốc gia, nhiều công ty làm ăn thành công trong nước và có hoạt động kinh doanh ở nước ngoài (trong đó có không ít công ty liên doanh và có vốn đầu tư nước ngoài), và thậm chí là những dự án rất lớn của các công ty quốc doanh và của chính phủ nữa (ví dụ như mua máy bay, công trình giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng như cầu đường, xây sân bay, nhà máy xi măng lớn...).

Những khách hàng này thường là những công ty có truyền thống quản trị tài chính tốt, làm ăn minh bạch hơn, hoặc các dự án của họ (bao gồm cả những dự án lớn của Nhà nước) thường mang tính bảo đảm nguồn thu và có hiệu quả nhất định. Vì vậy, ngân hàng nước ngoài có lợi thế về khối khách hàng doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn, và minh bạch hơn.

Mặt khác, về phía khách hàng cá nhân, trong tình hình khó khăn, người gửi tiền cá nhân sẽ tìm đến ngân hàng nước ngoài với hy vọng tìm kiếm nơi gửi tiền an toàn hơn, dù với lãi suất thấp hơn.

Vậy ra, nguồn vốn rẻ và ổn định mà ngân hàng nước ngoài thu được, không nhất thiết chỉ xuất phát từ chính sách marketing của họ, mà chính ra là từ thương hiệu và việc người ta nhận định ngân hàng nước ngoài an toàn hơn.

Nói chung, người ta tin rằng ngân hàng nước ngoài có các ngân hàng mẹ bảo trợ nên dù gì cũng đáng tin cậy hơn chứ người ta không nhìn vào đợt khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa rồi, nhiều ngân hàng nước ngoài hay quỹ đầu tư nước ngoài cũng chưa chắc thiệt hại ít hơn các tổ chức trong nước.

Điều quan trọng là các ngân hàng trong nước không dễ tiếp cận được với nguồn vốn chi phí thấp mà ổn định từ các tổ chức kinh doanh vững mạnh hay không thể đưa ra một lãi suất thấp hơn cho cá nhân gửi tiền.

Nguyên nhân thứ nhất là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở đây có lợi thế trong việc thu hút khối khách hàng doanh nghiệp nước ngoài nhiều tiềm lực tài chính do quan hệ của ngân hàng mẹ với công ty mẹ của doanh nghiệp nước ngoài.

Thứ hai, như nói ở trên, nếu không đưa ra lãi suất cao hơn ngân hàng nước ngoài thì người gửi tiền cá nhân nghĩ là “nếu lãi suất vậy thì đi gửi ngân hàng nước ngoài cho rồi”.

Thứ ba, những dự án tài trợ quá lớn sẽ vượt qua ngoài khả năng tài chính của nhiều ngân hàng trong nước. Nhìn đi nhìn lại, ngân hàng trong nước gặp khó khăn ở chỗ độ tín nhiệm không cao bằng ngân hàng nước ngoài.

Chính nhờ vậy, các ngân hàng nước ngoài lại sẽ có một danh mục cho vay an toàn hơn. Bởi vì nhiều khách hàng của họ có tiềm lực tài chính tốt hơn (đặc biệt là các công ty đa quốc gia giàu có), có quá trình ra quyết định đầu tư và quản trị tài chính bài bản hơn (ít nhất là khối khách hàng doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp lớn ở Việt Nam).

Điều này không chỉ có ở Việt Nam. Nghiên cứu năm 2006 của Detragiache, Gupta và Tressel thuộc IMF đã khẳng định điều đó. Qua khảo sát nhiều nước đang phát triển, họ cho rằng ngân hàng nước ngoài ở các nước đang phát triển có thuận lợi hơn vì khách hàng của họ đa phần là công ty đa quốc gia, công ty nội địa lớn (đặc biệt là nhiều liên doanh khai thác khoáng sản lớn ở những nước đang phát triển) và chính phủ.

Vì thế, họ tiếp cận nguồn vốn giá rẻ hơn và có danh mục cho vay an toàn hơn. Và ở đây, xuất hiện “trò chơi chuyển dịch rủi ro” về cho các ngân hàng nội địa.

Trò chơi chuyển dịch rủi ro

Trong trò chơi này, các ngân hàng nước ngoài dành được phần khách hàng ít rủi ro hơn, chi phí huy động vốn từ các khách hàng này thấp hơn, và danh mục các khoản cho các khách hàng này cũng ít rủi ro hơn.

Những khách hàng không minh bạch trong hoạt động kinh doanh (không hẳn là do tài chính kém mà là do tập quán ít chịu công bố ra bên ngoài thông tin gọi là “mật” của mình, được các nhà nghiên cứu của IMF gọi là “informationally difficult firms”), được chuyển cho nhóm các ngân hàng trong nước.

Trong nhóm khách hàng ít minh bạch hơn này, tất nhiên sẽ có những dự án đầy rủi ro như vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán. Nhưng do không có lựa chọn, và phải cố giữ thị phần, ngân hàng trong nước vẫn cho vay (đương nhiên phải kể đến những vấn đề thuộc về lợi ích của nhân viên tín dụng).

Nói đơn giản, trò chơi này giống như chia bánh, những phần bánh ngon nhất đã được ngân hàng nước ngoài lựa lấy, và chừa phần còn lại (rủi ro hơn) cho ngân hàng trong nước.

Đương nhiên, cần nói thêm rằng, ngay cả thời gian kinh doanh bất động sản và chứng khoán mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các ngân hàng trong nước thì có những ngân hàng nước ngoài vẫn đánh giá đây là những lĩnh vực phát triển bong bóng và tuyệt đối trong danh mục cho vay không có các khoản vay này.

Ở đây lại là vấn đề thuộc về “kinh nghiệm thương trường”, các ngân hàng nước ngoài đã chứng kiến nhiều sự thay đổi lớn ở thị trường tài chính các nước để có những chính sách chín chắn hơn ở các thị trường nước ngoài.

Nói cách khác, họ cũng biết cách nhận ra miếng bánh nào mới thật sự là ngon hơn, và nhường lại những miếng bánh nhìn ngon nhưng ăn vào sẽ bị béo phì hay bệnh tật cho ngân hàng trong nước.

Nên thấy rằng, ở thị trường Mỹ và châu Âu, khi mà “mác” của ngân hàng ngoại không tạo ra lợi thế đáng kể trong việc thu hút khách hàng ít rủi ro hơn, thì các ngân hàng đều phải lao vào thị trường rủi ro của tín dụng bất động sản và chứng khoán phát hành từ nợ vay thứ cấp. Kết cuộc là giờ không chỉ có ngân hàng Mỹ, ngân hàng Anh gặp rủi ro mà ngân hàng nhiều nước khác cũng vậy.

Muốn nâng cao hiệu quả của ngân hàng nội địa: phải nâng tầm cả ngân hàng lẫn khách hàng

Để nâng cao hiệu quả của ngành ngân hàng trong nước phải nâng cao hiệu quả quản lý nguồn vốn, thanh khoản và quản trị rủi ro đồng thời phải nâng cao vốn điều lệ, và giám sát chặt hơn những hoạt động tài chính (như các nước phát triển đang tranh cãi xem có nên siết lại thật chặt các hoạt động của ngành tài chính vốn đã “tự do hóa quá nhiều” trong một thập kỷ qua).

Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu đi cùng quá trình lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng không phải là bằng việc nâng cao chất lượng khách hàng. Đó là tạo ra một tập quán minh bạch thông tin hơn nữa để ngân hàng có hiểu biết kỹ hơn về khách hàng và độ rủi ro, đồng thời phải nâng cao chất lượng quản trị tài chính để các giám đốc tài chính thật sự giúp ích cho chủ doanh nghiệp, tránh những quyết định có thể dẫn đến các thảm họa tài chính do đầu tư tràn lan và đầy rủi ro.

Rủi ro xuất phát từ từng khách hàng là rủi ro đơn lẻ, nhưng thói quen không thích minh bạch thông tin và thích mạo hiểm của toàn bộ các doanh nghiệp trong nước sẽ lại là rủi ro hệ thống. Với loại rủi ro hệ thống như vậy, thì không bao giờ ngân hàng Việt Nam có thể giành được thị phần khách hàng an toàn mà chi phí thấp từ tay ngân hàng nước ngoài.

Theo Hồ Quốc Tuấn
TBKTSG

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM