TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Truyền thống cũ, nhận thức mới

23-08-2009 - 06:10 AM | Tài chính - ngân hàng

Truyền thống cũ, nhận thức mới

Hiện nay, hiệu quả của các ngân hàng được đo lường bằng những thủ thuật cạnh tranh đơn giản đi kèm với việc phải đánh đổi quá nhiều rủi ro về tín dụng và thanh khoản.

Quyết định mới đây của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc chỉ cho phép sử dụng tối đa 30% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn làm nảy sinh ít nhất ba gợi ý về mặt điều hành chính sách tiền tệ:

(1) Giảm rủi ro tín dụng và thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, (2) Khuyến khích huy động vốn qua thị trường chứng khoán, cải tiến quản trị doanh nghiệp, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa, (3) Góp phần đa dạng hóa thêm các công cụ sản phẩm đầu tư trên thị trường vốn.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang có cơ hội hấp thụ vốn mạnh nhằm đáp ứng các nhu cầu đầu tư phát triển, nhiều ngân hàng sau khi tính toán lại cân đối vốn thời điểm hiện tại đã vượt khá xa hệ số an toàn cho phép.

Trong khi đó, do tác động của tiến trình hội nhập, nền tảng môi trường kinh doanh tiền tệ ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố phức tạp, biến động khó lường, tâm lý kỳ vọng về lạm phát đã gây trở ngại không ít đến chiến lược tập trung vốn dài hạn thông qua hệ thống ngân hàng.

Bài toán khó đặt ra là làm thế nào để đáp ứng đúng quy định của NHNN trong khi mốc thời gian lập lại cân đối vốn không còn bao xa nữa (1-1-2010)?

Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng hơn đặt ra là: hệ thống ngân hàng thương mại liệu có nên tiếp tục duy trì hoạt động theo lề lối cũ với chiến lược ưu tiên mở rộng tín dụng, nhất là tín dụng trung dài hạn, hay là cần phải nhận thức lại vai trò truyền thống của mình và kiên trì chuyển đổi mô hình cho phù hợp với tình hình mới?

Về lý thuyết và thực tiễn, vai trò truyền thống của ngân hàng thương mại thường được nhìn nhận qua các sứ mệnh chính: (1) Cung ứng dịch vụ thanh toán, (2) Huy động vốn nhàn rỗi, kể cả có chức năng “tạo tiền”, (3) Tài trợ thương mại ngắn hạn.

Trong đó năng lực huy động vốn, duy trì thanh khoản là thước đo tổng hợp quan trọng nhất khi đánh giá khả năng cạnh tranh, là điều kiện tiên quyết nhằm tạo dựng giá trị cốt lõi của một ngân hàng trước khi xem xét đến những tiêu chí hiệu quả khác.

Điều này thực sự có ý nghĩa sống còn nếu chúng ta liên tưởng đến những bài học kinh nghiệm đáng giá rút ra từ khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, bên cạnh sự sụp đổ mang tính dây chuyền của một loạt ngân hàng, vẫn có những điển hình may mắn (Morgan Stanley, Visa... ) đã vượt qua “ bẫy thanh khoản” một cách ngoạn mục vào phút chót nhờ kịp thời tái cấu trúc mô hình từ ngân hàng đầu tư chuyển sang ngân hàng đa năng, được trao quyền tiếp cận vốn huy động trên thị trường.

Nhìn lại những năm gần đây, đi đôi với quá trình mở rộng mạng lưới một cách ồ ạt, một số ngân hàng dường như chỉ đặt trọng tâm vào chiến lược mở rộng tín dụng, xem đó như là giải pháp nhanh nhất nhằm tạo thế đứng trên thương trường đồng thời góp phần giải quyết những áp lực tài chính nội bộ trước mắt.

Vô hình trung, uy tín và thực lực của một ngân hàng thay vì phải được kiểm chứng thông qua hình mẫu truyền thống nhưng mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả thì lại được đo lường bằng những thủ thuật cạnh tranh đơn giản đi kèm với việc phải đánh đổi quá nhiều rủi ro về tín dụng và thanh khoản?

Trước đây khi chưa có thị trường chứng khoán, nền kinh tế không có lựa chọn nào khác ngoài việc dựa hẳn vào ngân hàng để tìm kiếm các nguồn lực vốn cho đầu tư phát triển. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng bành trướng liên tục quy mô đầu tư trung dài hạn qua kênh tín dụng và thường xuyên tạo áp lực lên cân đối vốn.

Hiện nay mặc dù thị trường chứng khoán đang khởi sắc trở lại, về lý thuyết đây là kênh tối ưu để huy động vốn dài hạn nhưng trên thực tế vẫn chưa thật sự hấp dẫn đối với doanh nghiệp mỗi khi cần vốn.

Bởi vì ngoài yêu cầu phải đăng ký trở thành công ty đại chúng thì những quy định đòi hỏi khắt khe khác về quản trị công ty và công khai minh bạch tài chính đang là những rào cản lớn về tâm lý khó vượt qua.

Chính vì vậy, đối với nhiều chủ doanh nghiệp, giải pháp vay ngân hàng mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng lại dễ dàng được chấp nhận hơn so với việc phải “bật mí” thông tin hoặc đánh mất quyền “tự do hành động” theo chủ ý của mình.

Tư tưởng có phần tiêu cực này đi ngược lại xu thế quản trị hiện đại trong thời đại hội nhập, kìm hãm tiến trình cổ phẩn hóa doanh nghiệp nhà nước cũng như trào lưu đổi mới quản lý kinh tế nói chung.

Trong điều kiện nguồn cung ứng vốn dài hạn từ ngân hàng bị thu hẹp dần, thị trường vốn trong nước tất yếu sẽ vận động theo xu hướng tối đa hóa chức năng, tạo môi trường cho các công cụ đầu tư khác trở nên thịnh hành và dễ được thị trường chấp nhận hơn nhằm đáp ứng các nhu cầu bức xúc về vốn đầu tư phát triển.

Ngoài thị trường cổ phiếu, bảo hiểm, FDI... thị trường trái phiếu cũng sẽ được mở rộng với nhiều sản phẩm từng được triển khai có hiệu quả như: trái phiếu công ty, trái phiếu công trình, trái phiếu đô thị...

Cũng cần phải tính đến phương án sử dụng nghiệp vụ phái sinh nhằm “chứng khoán hóa” một số “tài sản có” giá trị lớn và chất lượng cao, ví dụ các công trình cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, bến cảng... nhằm tạo lập nguồn vốn tái đầu tư dài hạn, cho dù đây là nghiệp vụ đặc biệt nhạy cảm trong thời buổi hiện nay đồng thời sẽ là thử thách mới đối với năng lực quản lý của các nhà hoạch định chính sách tài chính tiền tệ trong thời gian sắp đến.

Về phía hệ thống ngân hàng, khi tiến hành tái cơ cấu tài sản nợ - có, chuyển đổi mô hình theo định hướng quay về với hoạt động truyền thống, tất yếu sẽ có nhiều điều kiện tốt hơn để tập trung vào chiến lược đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực quản trị và cạnh tranh hội nhập cũng được cải thiện một cách cơ bản, đặc biệt là cơ cấu tài chính không còn phụ thuộc phần lớn vào nguồn thu từ tín dụng vốn dĩ không ổn định và tiềm ẩn khá nhiều rủi ro.

Tuy nhiên cần phải thừa nhận rằng đây là tiến trình không dễ dàng, bởi vì công bằng mà xét, những “gánh nặng lịch sử” để lại trên vai hệ thống ngân hàng trải qua nhiều thập kỷ khó lòng hóa giải trong một sớm một chiều.

Nhìn chung, hiệu quả của chính sách mới do NHNN công bố lần này là khả thi, có tác động tích cực nhiều mặt theo chiều hướng nâng cao hiệu quả và an toàn cho hoạt động ngân hàng, tuy nhiên, thiết nghĩ, NHNN cần nghiên cứu ban hành những giải pháp hỗ trợ với bước đi dài hơi hơn thay vì ấn định thời hạn chót vào ngày 1-1-2010 buộc tổ chức tín dụng phải hoàn thành xong việc tái cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn - sử dụng vốn.

Theo Tâm Dân
TBKTSG

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên