TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Vay tiêu dùng: Lãi suất mềm có thật mềm?

15-11-2007 - 09:52 AM | Tài chính - ngân hàng

Vay tiêu dùng: Lãi suất mềm có thật mềm?
Dưới góc độ đạo đức kinh doanh, việc dựa vào sự hiểu nhầm của khách hàng để kiếm lợi là điều nên làm? - Minh họa: lisahaney.com.

Trong lúc đang cần một số tiền khá khá cho những chi tiêu trong gia đình (sửa nhà, mua xe…) mà chưa biết xoay ở đâu, chắc hẳn bạn sẽ mừng rơn khi biết rằng có ngân hàng sẵn sàng cho vay khoản tiền này căn cứ vào thu nhập của bạn mà không cần tài sản đảm bảo, với lãi suất chỉ là 10%/năm (0,83%/tháng).

Mừng là phải vì những con số hiện ra trong đầu hết sức rõ ràng. Lãi suất tiết kiệm 12 tháng đã là 8,4% một năm, lãi suất cho vay có tài sản đảm bảo tại các ngân hàng lên đến 14% một năm, 10% - quá ưu đãi!

Có lẽ, người vay sẽ tự giải thích rằng do dịch vụ tín dụng tiêu dùng mới ở giai đoạn đầu cần phát triển, chưa tính đến lời lỗ nên các ngân hàng mới tính lãi suất thấp như vậy nhằm thu hút khách hàng.

Thực ra, nếu vay khoản vay nêu trên bạn sẽ phải trả một mức lãi suất rất cao vì ngân hàng đã đưa ra cách tính toán lãi hoàn toàn khác với cách hiểu thông thường. Đó chính là phương thức tính lãi phẳng (flat interest rate).

Theo phương thức này, số tiền hàng tháng mà khách hàng phải trả sẽ bằng số tiền vay ban đầu nhân (x) với lãi suất cộng (+) với số tiền gốc chia (:) cho số tháng. Ví dụ, một khoản vay 100 triệu đồng, thời hạn 36 tháng, lãi suất 0,83% tháng thì hàng tháng, số tiền phải trả = 100x0,83% + 100/36 = 3,611 triệu đồng.

Điểm đặc biệt của phương thức tính toán lãi suất này là số lãi người vay phải trả hàng tháng dựa vào số tiền vay ban đầu chứ không phải là số dư giảm dần theo cách hiểu thông thường. Ví dụ, vào tháng thứ 36 dư nợ của khoản vay chỉ còn 2,78 triệu đồng, nhưng người vay vẫn phải trả 830 nghìn đồng tiền lãi.

Nếu tính theo dư nợ giảm dần thì lãi suất của khoản vay lên đến 1,5%/tháng, hay 18%/năm, cao gấp 1,8 lần so với cách hiểu thông thường. Hơn thế, nếu tính lãi suất theo năm để so với tiết kiệm 12 tháng thì lãi suất lên đến 20% một năm – một con số quá cao so với mức lãi suất thông thường.

Nếu biết được lãi suất phải trả cao như vậy thì sự hồ hởi của người đi vay sẽ giảm đi rất nhiều, thậm chí có người sẽ nổi giận vì cảm giác như bị lừa. Sao ngân hàng lại làm như vây?

Thực ra, trên thế giới, lãi suất phẳng được sử dụng tương đối phổ biến. Do tính toán đơn giản và dễ hiểu nên nó thường được áp dụng cho loại hình tín dụng vi mô (các khoản vay nhỏ khoảng năm ba triệu, vay trong thời gian ngắn cho các đối tượng có thu nhập thấp).

Nhưng dù áp dụng bất kỳ cách tính toán nào thì theo quy định của nhiều nước, nhất là các nước phát triển (Hoa Kỳ chẳng hạn), bên cho vay phải cho bên vay biết lãi suất thực (effective interest rate) của khoản vay để họ có thể so sánh, đối chiếu. Nếu không, hành vi như trên được xem là hành vi lừa dối khách hàng.

Ở Việt Nam, ngoài định nghĩa chung chung trong Luật Cạnh tranh và quy định về lãi suất tối đa trong điều 476 của Bộ luật Dân sự, thì dường như chưa có quy định cụ thể về vấn đề này nên các ngân hàng có thể lập luận rằng họ không hề phạm luật, thậm chí còn cho rằng như vậy là đem lại lợi ích cho khách hàng vì họ có thêm tiện ích.

Tuy nhiên, dưới góc độ đạo đức kinh doanh, việc dựa vào sự hiểu nhầm của khách hàng để kiếm lợi là điều nên làm? Trong trường hợp này, Nhà nước cũng nên có quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
 
Theo Huỳnh Thế Du
Vneconomy

thanhtu