Gần đây, tranh chấp về hợp đồng tín dụng gia tăng đã
làm xuất hiện nhiều tình huống gây tranh cãi giữa các cấp tòa khi giải
quyết án, nhất là các tình huống có liên quan đến tài sản thế chấp, bảo
lãnh…
Giữa năm 2007, chị T. cần 40 triệu đồng để lo chi phí
chữa bệnh cho chồng. Thấy cảnh con dâu khó khăn, cha mẹ chồng chị T. đã
ra công chứng làm hợp đồng ủy quyền cho chị T. dùng giấy đỏ của ông bà
đem thế chấp ngân hàng vay tiền.
Lỗ hổng về ủy quyền thế chấp
Tháng 9-2007, chị T. đã ký hợp đồng tín dụng vay 500
triệu đồng của Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần A. ở huyện Bình
Chánh (TP.HCM). Nửa tháng sau, chị ký tiếp một hợp đồng tín dụng khác
vay thêm 200 triệu đồng. Cả hai khoản vay này đều được bảo đảm bằng hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất của cha mẹ chồng chị T.
Sau đó, chị T. không trả nợ nên tháng 10-2008 bị Ngân
hàng A. khởi kiện. Bốn tháng sau, TAND huyện Bình Chánh xử sơ thẩm đã
buộc chị T. phải trả nợ cho Ngân hàng A. Đồng thời, tòa nhận định hợp
đồng thế chấp giữa chị T. với Ngân hàng A. là hợp pháp vì chị T. có giấy
ủy quyền của cha mẹ chồng. Do đó, tòa đưa đất của cha mẹ chồng chị T.
vào làm tài sản thế chấp để bảo đảm các khoản vay của chị T. tại Ngân
hàng A.
Chị T. kháng cáo yêu cầu tòa phúc thẩm hủy bỏ phần
quyết định đưa đất của cha mẹ chồng chị vào làm tài sản thế chấp. Tháng
5-2009, TAND TP.HCM đã chấp nhận kháng cáo của chị T. Theo tòa, cấp sơ
thẩm đã sai khi xác định hợp đồng thế chấp do chị T. lập với Ngân hàng
A. là hợp pháp. Bởi lẽ trong hợp đồng thế chấp tài sản không có chữ ký
của cha mẹ chồng chị T. trong khi họ là người đứng tên trên giấy tờ đất.
Như vậy, hợp đồng thế chấp này không có giá trị pháp lý.
Cho đến nay, bản án phúc thẩm trên vẫn chưa thể thi
hành dứt điểm bởi còn gây nhiều tranh cãi về chuyện tài sản thế chấp. Có
người ủng hộ hướng giải quyết của tòa sơ thẩm nhưng nhiều người khác
lại phản đối. Trong vụ việc trên, bản hợp đồng thế chấp có tên người thế
chấp là cha mẹ chồng chị T. nhưng không có chữ ký của họ là không đầy
đủ thủ tục. Mặt khác, Ngân hàng A. cũng chưa có tài liệu xác định quyền
sử dụng đất của cha mẹ chồng chị T. đã đủ điều kiện thế chấp hay chưa.
Việc ngân hàng chấp nhận tài sản thế chấp như vậy là quá sơ hở, dễ dãi…
Nhập nhằng thế chấp với bảo lãnh
Năm 2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K. ký hợp đồng
cho cơ sở sản xuất gỗ B. vay 5 tỉ đồng trong hai năm. Để bảo đảm cho
khoản vay, bên thứ ba là ông NVH đã đứng tên “thế chấp, bảo lãnh” căn
nhà của ông tại quận 3 (TP.HCM) trong hợp đồng tín dụng. Sau đó, cơ sở
B. không trả nợ nên bị Ngân hàng K. kiện ra TAND TP.HCM yêu cầu phải
thanh toán cả nợ gốc lẫn lãi, trường hợp không thanh toán được thì xử lý
căn nhà của ông H.
Tháng 11-2011, TAND TP.HCM xử sơ thẩm đã buộc cơ sở B.
phải trả nợ cho Ngân hàng A. Tuy nhiên, tòa không chấp nhận yêu cầu xử
lý nhà của ông H. bởi theo tòa, hợp đồng thế chấp giữa ông H. với ngân
hàng vô hiệu vì trường hợp này không phải là thế chấp mà là bảo lãnh.
Tháng 4-2012, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã
sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng K.
Theo tòa, hợp đồng mà ông H. ký với ngân hàng có tên là “hợp đồng thế
chấp, bảo lãnh”. Hợp đồng này nhằm bảo đảm cho khoản vay của cơ sở B.
với ngân hàng nên nó là hợp đồng bảo lãnh chứ không phải là hợp đồng thế
chấp như cấp sơ thẩm nhận định. Từ đó, tòa kết luận hợp đồng này hợp
pháp, có hiệu lực chứ không vô hiệu.
Một thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM
nhận xét: Ở vụ án trên, nếu cơ sở B. dùng tài sản của mình để bảo đảm
cho khoản vay tại ngân hàng thì đó là giao dịch thế chấp. Còn nếu cơ sở
B. dùng tài sản của người khác (như nhà đất của ông H.) để bảo đảm cho
khoản vay tại ngân hàng thì đó là giao dịch bảo lãnh. Chính cái tên “hợp
đồng thế chấp, bảo lãnh” không rõ ràng giữa cơ sở B. với Ngân hàng K.
là nguyên nhân dẫn đến sự nhận định khác nhau giữa các cấp tòa. Cấp sơ
thẩm cho rằng đó là tài sản thế chấp, cấp phúc thẩm lại xác định đó là
tài sản bảo lãnh.
Cũng theo thẩm phán này, hiện nay trong rất nhiều vụ
tranh chấp tín dụng, tòa thường nhầm lẫn giữa tài sản thế chấp với bảo
lãnh. Dù tài sản thế chấp hay bảo lãnh cũng đều bị xử lý để thu hồi nợ
nhưng nếu xác định không đúng sẽ không ổn, nhất là trong trường hợp tài
sản là nhà, đất. Bởi lẽ rất nhiều ngân hàng cho khách hàng vay tiền và
nhận tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất của bên thứ ba
nhưng thay vì lập hợp đồng bảo lãnh lại lập thành hợp đồng thế chấp.
Khi
phát sinh tranh chấp, bên thứ ba yêu cầu tòa tuyên hợp đồng vô hiệu và
được chấp thuận vì nhiều tòa cho rằng hợp đồng thế chấp này phải được
xác lập bằng hình thức bảo lãnh. Việc tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu
gây thiệt hại cho các ngân hàng là các khoản cho vay của họ có nguy cơ
bị chuyển thành khoản nợ không có đảm bảo.
| Sơ sẩy, ngân hàng “mất” tài sản bảo đảm Tại Quảng Ngãi, một ngân hàng đã cho khách
hàng vay một khoản tiền lớn và nhận tài sản bảo đảm là giấy hồng của bên
thứ ba nhưng lại lập thành hợp đồng thế chấp. Khi khách hàng không trả
nợ, ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm thì bên thứ ba khởi kiện yêu cầu tòa
tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Quảng Ngãi đã chấp
nhận yêu cầu này. Theo tòa, trong trường hợp này, đáng lẽ các bên phải
ký hợp đồng bằng hình thức bảo lãnh chứ không phải thế chấp. Sau đó, Tòa
Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng cũng y án sơ thẩm. Ngân hàng gặp khó Việc xử lý tài sản bảo đảm tại các ngân
hàng hiện nay đang gặp vướng mắc, một phần do trình độ, khả năng của cán
bộ ngân hàng nhưng phần lớn vẫn là do thủ tục phức tạp, cơ chế pháp lý
chưa phù hợp… Chẳng hạn nhiều bất động sản thế chấp tại
ngân hàng dù đầy đủ thủ tục nhưng khi cần, ngân hàng vẫn không thể tự
bán. Nghị định 163 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm cho phép nhưng
BLDS lại quy định người đứng tên trong hợp đồng mua bán phải là chủ bất
động sản hay người đại diện hợp pháp của chủ bất động sản. Do đó, nếu
chủ bất động sản không đồng ý, phản đối thì không thể thực hiện thủ tục
sang tên đổi chủ cho bất động sản đó. Gặp trường hợp này, để có quyền bán bất
động sản hợp pháp thì ngân hàng phải khởi kiện. Nhưng thực tế, một vụ án
có khi phải trải qua nhiều năm, qua rất nhiều cấp xét xử… Khi án có
hiệu lực, nếu ngân hàng thắng kiện cũng chưa chắc có thể xử lý tài sản. Một cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Cẩn thận không thừa Luật cho phép cá nhân được nhận ủy quyền
của người khác để thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi ủy quyền, kể
cả việc dùng tài sản thế chấp, bảo lãnh vay tiền ngân hàng. Tuy nhiên,
nhiều trường hợp việc ủy quyền được thực hiện không đúng mà các ngân
hàng lại không để ý, dẫn đến gặp bất lợi khi xử lý tài sản bảo đảm. Ví
dụ nhận tài sản thế chấp, bảo lãnh mà ngân hàng lại không buộc người
đứng tên tài sản ký tên... Kiểm sát viên NGUYỄN ANH ĐỨC, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) |
Theo Hoàng Yến
PLTP