TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ảnh hưởng từ sự đi lên của kinh tế nhóm nước mới nổi

04-01-2010 - 16:38 PM | Tài chính quốc tế

Ảnh hưởng từ sự đi lên của kinh tế nhóm nước mới nổi

Nền kinh tế những nước đang phát triển đã thoát ra khỏi suy thoái nhanh hơn dự báo của bất kỳ ai. Điều này sẽ có ảnh hưởng sâu sắc lên những nền kinh tế còn lại trên thế giới.

Ảnh hưởng chính trị và xã hội của khủng hoảng tài chính toàn cầu tệ hại nhất tính từ Đại Suy thoái đã nhẹ hơn so với dự báo của các chuyên gia. Tại nhóm nền kinh tế đang phát triển, ít nhất chính phủ các nước không gặp nhiều khó khăn như thời kỳ khủng hoảng châu Á năm 1997-1998.

Tuy nhiên, không phải nước nào cũng đón tin tốt. Một số nước thoát ra khỏi khủng hoảng tốt hơn so với nước khác. Và hiện nay mới chỉ có những ảnh hưởng đầu tiên: mọi chuyện có thể trở nên xấu hơn. Dù vậy, cho đến nay, mọi chuyện vẫn chưa khiến người ta lo ngại.
 
1 năm trước, người ta không hề kỳ vọng đến điều này. Quy luật thông thường là khi nước giàu “hắt hơi”, nước nghèo cũng sẽ chịu ảnh hưởng. Quý 4/2008, khi nhóm nền kinh tế nước giàu suy giảm từ 5% đến 10%/năm, GDP ở nhóm nền kinh tế năng động nhất thế giới bao gồm Singapore, Hàn Quốc và Braxin, suy giảm khoảng 15%. Sản lượng công nghiệp Đài Loan năm 2008 giảm tới 1/3 – trầm trọng hơn thời kỳ đi xuống mạnh nhất của sản lượng công nghiệp Mỹ thời kỳ Đại Suy thoái.
 
Thị trường các nước mới nổi chịu ảnh hưởng không giống nhau bởi mối liên kết tài chính và thương mại của những nước này với phương Tây. Xuất khẩu tại nhóm nước được coi là “con hổ châu Á” trong quý cuối năm 2008 giảm một nửa, nguồn vốn vào thị trường các nước mới nổi rớt mạnh.
 
Viện tài chính quốc tế (IIF), một cơ quan nghiên cứu tại Washington, dự báo lượng vốn vào các nước nghèo năm 2009 thấp hơn 72% so với mức đỉnh cao năm 2007 – mức giảm chưa từng có trong lịch sử.
 
Khi năm 2009 đến, không có dự báo nào quá u ám. Thuật ngữ “Thời kỳ toàn cầu hóa chấm dứt” trở nên phổ biến. Một số người cho rằng nhóm nước mới nổi sẽ quay về thị trường nội địa để tự bảo vệ họ khỏi ảnh hưởng từ phương Tây. Một số chuyên gia khác dự báo hàng trăm triệu người sẽ trở lại cảnh đói nghèo. Giám đốc Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ông Dominique Strauss Kahn cho rằng trừ khi chính phủ các nước đưa ra chính sách đúng, bất ổn xã hội có thể đến, thậm chí là chiến tranh.
 
Đầu năm 2010, thực tế, khoảng 1 tỷ người trên thế giới chịu đói. Đây là con số cao kỷ lục trong khoảng thời gian 40 năm. 3 tháng cuối năm, dù không ít sự kiện xấu đã đến, thời kỳ này vẫn chứng kiến sự phục hồi mạnh nếu xét theo biến động trên thị trường vốn, trái phiếu và chứng khoán.
 
Năm 2009, thị trường chứng khoán của những nước đang phát triển lớn lấy lại phần lớn số điểm đã mất trong năm 2008. Tháng 10/2009, lượng tiền vào các nước mới nổi lên mạnh nhất tính từ năm 1995.
Ngân hàng Trung ương Nga ước tính lượng vốn đầu tư vào nước này trong quý 4/2009 có thể là 20 tỷ USD trong khi số tiền thoát chạy ra khỏi nước này 9 tháng đầu năm là 60 tỷ USD. Viện tài chính quốc tế tính toán cho rằng lượng vốn ròng và các nền kinh tế đang phát triển sẽ tăng gấp đôi trong năm 2010 lên mức 672 tỷ USD (vẫn còn thấp hơn so với mức đỉnh cao). Vì thế trên khắp thế giới, người ta đang kêu gọi kiểm soát kỹ hơn lượng tiền vào thị trường các nước mới nổi.
 
Lý do kinh tế đằng sau điều này chính là thị trường nhóm nước mới nổi không chịu ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế toàn cầu tại các nước giàu như thời kỳ đầu năm 2009. Những nước mới nổi đông dân số như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia không rơi vào suy thoái, họ chỉ trải qua thời kỳ kinh tế tăng trưởng chậm hơn. Sản lượng kinh tế tại Braxin và một số nước “con hổ châu Á” giảm sâu nhưng đã hồi phục trở lại.
 
Tình hình không phải tại nơi nào cũng tốt đẹp. Những nước vùng Baltic trải qua thời kỳ khủng hoảng. Mehicô “chịu trận” bởi chính những mối ràng buộc kinh tế của nước này với Mỹ, khu vực Đông Âu chịu ảnh hưởng nặng nề hơn châu Á, người nghèo châu Phi khốn khổ hơn người thu nhập trung bình tại châu Á.

Nhìn chung, mức suy giảm sản lượng tại thị trường các nước mới nổi năm 2007 cao hơn so với khủng hoảng 1997 – 1998, nhưng thấp hơn so với kỳ vọng và thấp hơn so với mức suy giảm GDP của thế giới.

Thị trường những nước mới nổi hưởng lợi từ chính kế hoạch kích cầu của họ và hiệu ứng từ phía các nước giàu. Kế hoạch giải cứu kinh tế và nới lỏng chính sách tiền tệ tại những nước giàu giúp làm giảm hoảng sợ tài chính và khiến nhu cầu đối với hàng hóa từ thị trường các nước mới nổi tăng cao. Ngoài ra, một ố nước đã xây dựng được dự trữ tiền tệ lớn sau thời kỳ khủng hoảng tài chính châu Á, nhờ thế họ có một cái “áo giáp” vững chắc.

Sự ổn định đáng ngạc nhiên

Việc kinh tế ổn định đã giúp mang lại nhiều lợi ích về chính trị, xã hội. Việc kinh tế đi xuống trong nhiều thập kỷ suy cho cùng cho đến nay mới chỉ khiến một chính phủ tại nhóm nước mới nổi sụp đổ: Latvia (chính phủ Iceland gần sụp đổ). Chính phủ của một số nước Đông Âu khác, đặc biệt là Hungary cũng chịu áp lực.

Thế nhưng chính phủ tại hai nước mới nổi lớn là Ấn Độ và Indonexia tổ chức tổng tuyển cử trong năm 2009 và trong cả hai cuộc bầu cử này, đảng cầm quyền đều chiến thắng. Điều này rất khác thường tại Ấn Độ bởi thông thường họ thường bỏ phiếu chống đảng đang cầm quyền.

Khủng hoảng toàn cầu đã củng cố chứ không phải làm yếu đi uy tín của chính phủ những nước mới nổi lớn bởi người ta thường cho rằng khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ một nơi khác và được chính phủ nhóm nước này ứng phó một cách hiệu quả.

Ở thời điểm đầu năm 2009, thuế từ hoạt động xuất khẩu giảm, tiền gửi từ nước ngoài, giá hàng hóa, lượng vốn đầu tư vào giảm, tất cả những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng tài khóa cũng như chương trình an sinh xã hội của nhóm nước đang phát triển.

Thế nhưng bằng những biện pháp khẩn cấp để giải quyết khủng hoảng, nhiều vấn đề kinh tế lớn đã được giải quyết. Lần đầu tiên trong một đợt suy thoái kinh tế toàn cầu, các nước mới nổi tự do trong việc nới lỏng chính sách tài khóa.

Nhiều nước đưa ra chương trình kích cầu có quy mô lớn. Người ta biết nhiều nhất đến kế hoạch kích cầu của Trung Quốc, thế nhưng Nga, Hồng Kông, Kazakhstan, Malaysia, Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Braxin và Chile cũng đưa ra các chương trình kích cầu lớn để ngăn khủng hoảng.

Kế hoạch kích cầu của chính phủ nhóm nước mới nổi tính trong tương quan với tổng GDP cao hơn so với kế hoạch đó với nhóm nước giàu.

Xét trên phương diện này, chính phủ nhóm nước mới nổi đã làm nhiều hơn so với những nước phương Tây trong việc ứng phó với khủng hoảng.

Từ năm 2007, theo Goldman Sachs, nhóm nền kinh tế mới nổi bao gồm Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc đã đóng góp 45% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu, con số cao gấp đôi thời kỳ từ năm 2000 cho đến năm 2006 và cao gấp 3 lần so với thập niên 1990.

Người ta từng cho rằng dù những nước mới nổi đóng góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu, họ không thể là động lực chính của kinh tế thế giới bởi hàng hóa của họ cuối cùng lại được tiêu thụ tại Mỹ. Luận điểm đó hiện nay đã kém phần chính xác bởi Trung Quốc hiện nay đã nổi lên như thị trường tiêu thụ hàng hóa chính của những nước xuất khẩu nhỏ thuộc châu Á. Suy thoái kinh tế cho thấy sức mạnh kinh tế đang chuyển dời xa khỏi phương Tây nhanh hơn tưởng tượng của nhiều người.

Những cuộc suy thoái kinh tế trước đây đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín trong việc giải quyết vấn đề kinh tế của nhóm nước đang phát triển. Lần này, khi uy tín của những nước giàu đi xuống, nhóm nước mới nổi nhận ra họ đang được biết đến với sự thận trọng tài khóa hiếm thấy.

Tỷ lệ nợ/GDP của 20 nước mới nổi lớn chỉ bằng một nửa so với tỷ lệ này tại 20 nước giàu nhất thế giới. Trong vài năm tới, nợ tại những nước giàu sẽ tiếp tục tăng cao và vì thế tỷ lệ nợ của nhóm nước mới nổi sẽ chỉ còn bằng 1/3 so với nhóm nước giàu ở thời điểm năm 2014.


Theo Dân Trí/Economist



ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên