TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Cải cách tài chính: trước hết phải thay đổi động cơ làm việc

05-07-2009 - 10:56 AM | Tài chính quốc tế

Cải cách tài chính: trước hết phải thay đổi động cơ làm việc

Giám đốc ngân hàng không ngốc khi đặt cược dốc túi với đủ mọi rủi ro, vì nếu thắng, một phần thưởng khổng lồ đang chờ họ. Nền kinh tế không thể chấp nhận điều này.

Giờ đâu đâu cũng thấy những đề xuất cải cách quy tắc tài chính. Quan trọng nhất là đề xuất toàn diện tuy có phần rụt rè của chính quyền Obama. Nhưng những đề xuất như thế có làm giảm bớt nguy cơ khủng hoảng của hệ thống tài chính không?

Câu trả lời là: Không. Lý do cho sự bi quan này là cuộc khủng hoảng đã làm trầm trọng thêm điểm yếu của ngành ngân hàng. Những cải cách trước mắt khó có thể triệt tiêu được nguy cơ này.

Trung tâm của ngành tài chính là những hoạt động kinh doanh chủ yếu lấy vốn từ vay nợ. Hoạt động chính của nó là tạo ra và mua bán các tài sản có giá trị không rõ ràng, trong khi đòn cân nợ lại được các bang bảo đảm. Đó là giấy phép để đánh bạc bằng tiền của người nộp thuế. Khó mà hiểu được sao khủng hoảng lại ít xảy ra đến thế.

Cần phải khởi đầu ở ngay cốt lõi của chủ nghĩa tư bản hiện đại: công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn. Các ngân hàng thương mại lớn nằm trong số những sản phẩm quan trọng nhất của cuộc cách mạng trách nhiệm hữu hạn.

Nhưng ngân hàng là hình thức kinh doanh đặc biệt: với họ, nợ không chỉ là một cách thức tiến hành kinh doanh; đó là công việc của họ. Do đó, trách nhiệm hữu hạn có lẽ sẽ tạo ảnh hưởng nặng nề lên hành vi của họ.

Lucian Bebchuk và Holger Spamann tại Trường Luật Havard nêu ra luận điểm quan trọng trong nghiên cứu xuất sắc gần đây, tập trung vào tác động của động cơ lên cách quản lý kinh doanh. Điều này cực kỳ quan trọng. Tuy vậy, quan trọng hơn là tại sao các ngân hàng trách nhiệm hữu hạn, hoạt động vì lợi ích của các cổ đông, lại nhiều nguy cơ đến thế.

Tại các công ty trách nhiệm hữu hạn có đòn cân nợ cao, cổ đông sẽ chấp nhận rủi ro một cách hợp lý, vì nếu mọi việc xuôi chèo mát mái thì họ được hưởng thành quả còn nếu gặp tình huống bất lợi, mất mát của họ cũng có giới hạn, không thể mất nhiều hơn số cổ phần của mình dù ngân hàng có thua lỗ bao nhiêu. Với các ngân hàng hiện nay, đòn cân nợ 30:1 là bình thường. Đòn cân nợ cao hơn cũng không hiếm. Cổ đông có động cơ để tăng tính bất ổn của tài sản ngân hàng.

Tưởng tượng có hai mô hình kinh doanh có cùng mức lợi nhuận kỳ vọng: một có lợi nhuận chắc chắn và ổn định; một bao gồm những thời kỳ dài lợi nhuận cao rồi thỉnh thoảng thua lỗ thê thảm. Các cổ đông thực dụng thích mô hình sau hơn..

Hai GS Bebchuk và Spamann nói thêm bốn đặc trưng của hệ thống tài chính hiện đại khiến tình hình càng thêm tồi tệ: thứ nhất, vốn ngân hàng tự nó có nguồn gốc từ nợ; thứ hai, vai trò của các công ty sở hữu ngân hàng có thể tạo thêm động cơ cho các cổ đông coi thường rủi ro; thứ ba, các nhà quản lý được thưởng nếu làm việc vì lợi ích của số cổ đông này; và thứ tư, một số cách thưởng cho nhà quản lý, ví dụ như quyền chọn chẳng hạn, tự nó lại là một cách để thưởng cho các cổ đông.

Vì thế các nhà quản lý thậm chí còn có lợi ích kinh tế lớn hơn cổ đông khi đặt cược kiểu dốc túi. Việc một số nhà quản lý mất hàng đống tiền khi đặt cược kiểu này không có nghĩa họ là đồ ngốc, vì lợi ích nếu thắng cược là cực lớn.

Một giải pháp có lẽ đã rõ ràng: cứ để bên cho vay mất tiền. Những bên cho vay hợp lý khi ấy sẽ yêu cầu một khoản chênh lệch khi cho các đối tượng rủi ro cao vay, giúp giảm đòn cân nợ. Một lý do để phản đối là bên cho vay có thể không có đầy đủ thông tin về ngân hàng mình đang cho vay. Nhưng còn có một sự lý do mạnh mẽ hơn: nhiều người cho vay được chính phủ bảo hiểm. Vài trò nguồn tín dụng quan trọng của các định chế tài chính khiến sự bảo hiểm này là cần thiết.

Kết quả là, bên cho vay không quan tâm mấy đến chất lượng tài sản của ngân hàng hay chiến lược của nó. Họ có vẻ như đang cho ngân hàng vay. Thực chất, họ đang cho Nhà nước vay.

Bài học lớn của cuộc khủng hoảng hiện nay là những dạng bảo hiểm thế này có thể chống đỡ được đến đâu nếu các định chế này quá lớn hoặc sụp đổ theo dây chuyền. Các ngân hàng lớn hiếm khi một mình gặp rắc rối: họ thường mắc những lỗi rất giống nhau; hơn nữa, một ngân hàng sụp đổ làm suy yếu tính thanh khoản thực tế của các ngân hàng khác.

Do đó, người cho vay gặp nhiều rủi ro nhất trong một cuộc khủng hoảng toàn hệ thống. Nhưng một cuộc khủng hoảng toàn hệ thống xảy ra thì cũng là lúc chính phủ cảm thấy cần phải nhảy vào giải cứu, như họ đã làm cuối năm ngoái.

Theo Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu mới đây nhất của IMF, số tiền các ngân hàng trung ương và chính phủ Mỹ, Anh, và khu vực eurozone hỗ trợ đã lên tới 9000 tỷ USD, trong đó có 4500 tỷ là bảo đảm. Bảng kết toán tài sản của nhà nước được đặt sau của ngân hàng. Điều đó không có nghĩa người cho vay không chịu rủi ro gì. Rủi ro của họ chỉ ít đi mà thôi.

Giải pháp được nhiều người biết tới là điều tiết chặt chẽ những định chế được bảo hiểm. Nhưng phần lớn các họat động của ngân hàng đầu thập niên này, các phương tiện ngoài bảng kết toán tài sản, chứng khoán phái sinh và chính “hệ thống ngân hàng ngầm”, đã tìm được cách lách luật. Câu hỏi đặt ra là “liệu lần này có khác?”. Những người thông minh không tránh khỏi phải nghi nó.

Trong bài phát biểu của mình, Thống đốc Bank of England Mervyn King nói rõ rằng vì sao tìm cách tiếp cận tốt hơn lại quan trọng đến thế: “Cái giá cho cuộc khủng hoảng này không chỉ đơn giản được đo đạc bằng ảnh hưởng của nó lên tài chính công, số tài sản hay số việc làm bị mất đi. Phải nhìn nhận tới cả sự phai nhạt lòng tin vào khu vực tài chính cũng như nhiều bộ phận khác của nền kinh tế … ”

Khủng hoảng không chỉ bắt nguồn từ những động cơ thực dụng, còn cả sự ngu dốt và liều lĩnh nữa. Khó có thể tin rằng bong bóng và khủng hoảng đã bị quét sạch khỏi chủ nghĩa tư bản cũng như không thể tin được các định chế lớn chấp nhận nhiều rủi ro đến thế mà lại không có động cơ gì. Một sự thật khó chấp nhân là, ngày nay, động cơ để mạo hiểm thậm chí còn lớn hơn so với thời tiền khủng hoảng.

Cải cách không thể đặt dấu chấm hết, nhưng phải khởi đầu từ những động cơ này. Một công ty quá lớn để đổ vỡ không thể hoạt động chỉ vì lợi ích cổ đông, vì nó không còn là một phần của thị trường. Hoặc chúng phải đóng cửa, hoặc phải hoạt động theo một cách khác. Đơn giản là vậy, mà cũng thật khó thực hiện!

Minh Tuấn
Theo FT



ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM