TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Châu Á mất niềm tin vào phương Tây?

26-07-2009 - 10:57 AM | Tài chính quốc tế

Châu Á mất niềm tin vào phương Tây?

Sau khủng hoảng, châu Á vẫn tin vào lý thuyết kinh tế phương Tây, nhưng họ đã không còn niềm tin vào cách quản lý kinh tế kiểu phương Tây.

Người viết là trưởng khoa tại Trường Chính sách công Lee Kuan Yew, Singapore.

Trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay nổ ra, đa phần trí thức và các nhà hoạch định chính sách Châu Á tin rằng phương Tây đi đầu trong cả lý thuyết lẫn thực tiễn phát triển kinh tế.

Niềm tin đó đã được khẳng định. Suốt hơn hai thế kỷ, kinh tế phương Tây vượt trội so với phương Đông. Nền kinh tế Châu Á chỉ hoạt động tốt khi chấp nhận và thực thi các lý thuyết của Adam Smith về kinh tế thị trường.

Tuy vậy, khi khủng hoảng tiếp nối bằng suy thoái toàn cầu đồng thời các nền kinh tế lớn phương Tây chịu ảnh hưởng nặng nề, nhiều người Châu Á bắt đầu đặt dấu hỏi về niềm tin của mình vào phương Tây.

Ở đây cần phải phân biệt rõ ràng rằng: người Châu Á vẫn tin vào lý thuyết kinh tế phương Tây, nhưng họ đã không còn niềm tin vào cách quản lý kinh tế kiểu phương Tây.

Ví dụ Á Châu thực sự bối rối khi biết một bộ óc vĩ đại như Alan Greenspan lại tin rằng các giao dịch viên chứng khoán phái sinh không cần điều tiết. Năm 2003, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ khi đó đã nói rằng: “Thị trường chứng khoán phái sinh OTC phát triển mạnh là kết quả của việc thị trường tự tìm cho mình một công cụ hiệu quả. Và câu hỏi đặt ra là, có nên điều tiết nó không?”

Câu trả lời của ông là nhà nước không nên đi quá các quy định thông thường với ngân hàng vì “các giao dịch chứng khoán phái sinh này được thực hiện giữa những người chuyên nghiệp”.

Trái với tư tưởng thị trường hiệu quả, tư tưởng phát triển kinh tế Châu Á là sự kết hợp giữa các giá trị truyền thống như chăm chỉ, tiết kiệm và một khu vực tư nhân năng động được cân bằng bởi sự can thiệp sáng suốt của chính phủ khi thị trường bất lực.

Cũng cần nhấn mạnh đến sự đa dạng của Châu Á. Ấn Độ khác với Trung Quốc cũng như Singapore khác với Việt Nam. Dù vậy gần như toàn bộ các xã hội Á Châu tin rằng chính quyền đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý kinh tế.

Tất cả các chính phủ Châu Á đều đồng ý với nhà kinh tế đoạt giải Nobel Amartya Sen rằng bàn tay vô hình của thị trường phải được cân đối bằng bàn tay hữu hình của chính phủ.

Một khác biệt thú vị nữa nổi lên ở cả phương Đông và phương Tây là trong khi người phương Tây vẫn trung thành với tư tưởng thị trường tự do, nhiều người trong số họ thực tế đã trở nên cảnh giác với thương mại tự do. Ngược lại, niềm tin của người dân Châu Á vào thị trường tự do ngày càng mạnh mẽ hơn.

Ví dụ như điều khoản “mua hàng Mỹ” được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua gần đây là hoàn toàn sai lầm. Nó sẽ khiến các ngành công nghiệp Mỹ kém cạnh tranh hơn.

Một thực tế chính trị trần trụi ở Mỹ là gần như không thể khiến Quốc hội Mỹ thông qua các hiệp định thương mại tự do mới, kể cả khi nó chủ yếu phục vụ cho lợi ích của nước Mỹ.

FTA Mỹ-Colombia làm lợi cho Mỹ nhiều hơn Colombia nếu nó triệt tiêu ngành công nghiệp sản phẩm gây nghiện của Colombia. Nhưng thỏa thuận này đã rơi vào bế tắc.

Ngược lại, khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đang nở rộ các FTA mới. Hiệp định lớn nhất trên thế giới sẽ là giữa 1,2 tỷ dân Trung Quốc với 500 triệu dân ASEAN. Nó đã được ký kết cũng như thông qua và sẽ có hiệu lực vào năm 2010.

Nhật Bản, Úc, New Zealand và Ấn Độ đang tiếp bước với các hiệp định tương tự với ASEAN. Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) lưu ý rằng khoảng 20 FTA liên khu vực ở các bước thực thi khác nhau đã làm tăng đáng kể phúc lợi kinh tế.

Tự do cạnh tranh tràn ngập Châu Á, trong khi chủ nghĩa bảo hộ dân túy lại thắng thế ở phương Tây.

Các phân tích gần đây về tác động của cuộc khủng hoảng hiện nay lên các nền kinh tế Châu Á đã khẳng định một cách chính xác rằng xuất khẩu từ Châu Á sang Mỹ sụp đổ cũng có nghĩa là thương mại nội khối Châu Á sụt giảm, vì phần nhiều nằm ở cuối chuỗi giá trị toàn cầu và dùng để sản xuất các hàng hóa có điểm đến cuối cùng là nước Mỹ. Nếu đó là toàn bộ tăng trưởng thương mại nội khối của Châu Á thì thật đáng lo ngại cho tương lai.

Tuy vậy, ADB lưu ý rằng, tổng giá trị thương mại hàng hóa giữa Đông Á và Nam Á từ năm 1990 đến năm 2007 tăng 8 lần, mỗi khu vực lại xuất khẩu dựa vào lợi thế so sánh của mình. Không phải tất cả đều nhờ sức cầu của nước Mỹ.

Đồng thuận Đông-Tây không còn có thể tạo ra những thay đổi quan trọng. Ví dụ như hoàn toàn có thể các nền kinh tế Châu Á sẽ hoạt động tốt hơn phương Tây trong một thời gian dài, nhờ tôn trọng triệt để các tư tưởng phương Tây về phát triển kinh tế trong khi các xã hộ phương Tây lại quay lưng lại với chúng, dù công khai hay ngấm ngầm.

Tương tự, trong khi dân chúng phương Tây ngày càng cẩn trọng với toàn cầu hóa, gần như không có bất kỳ lời ong tiếng ve nào tại Châu Á. Thực tế, người Châu Á muốn toàn cầu hóa mạnh mẽ hơn nữa.

Giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay là do phương Tây tạo ra, nhưng giờ có thể thế giới sẽ chứng kiến sự “Á Châu hóa” toàn cầu hóa. Điều tưởng chừng như nghịch lý đó sẽ là kết quả khi không còn đồng thuận Đông-Tây.

Lịch sử đang có một bước ngoặt thú vị.

Theo FT

Minh Tuấn


ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM