TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Chính phủ nên hỗ trợ doanh nghiệp thế nào?

05-09-2010 - 08:51 AM | Tài chính quốc tế

Chính phủ nên hỗ trợ doanh nghiệp thế nào?

Chỉ có thị trường tự do mới tạo ra hiệu quả kinh tế, thay vì can thiệp trực tiếp vào doanh nghiệp, chính phủ chỉ nên tập trung cải thiện môi trường kinh doanh.

Hãy lắng nghe thật kỹ, bạn sẽ thấy văng vẳng tiếng một tiếng động lạ đang rền vang khắp các nước giàu có. Trong thập kỷ 90, đó từng là tiếng kêu đòi bảo hộ ở Mỹ với lý do hiệp định thương mại tự do khiến việc làm chảy sang Mexico.

Lần này cũng là lo ngại về việc làm và tăng trưởng, nhưng nguồn cơn của âm thanh đó lại khác: nó tới từ những cánh tay của Nhà nước đang vươn tới ngày càng nhiều lĩnh vực kinh doanh để tái khởi động nền kinh tế.

Giới chính trị đang quay về với ý tưởng can thiệp vào từng ngành, từng doanh nghiệp để có thể thúc đẩy tăng trưởng và tạo việc làm.

Nghi ngờ ấy không phải không có cơ sở vì nước Pháp, quê hương của Colbert, đang miệt mài mua cổ phần tại các công ty sản xuất đồ chơi, website chia sẻ video và các doanh nghiệp lớn đang trong cơn khốn khó.

Ở khắp Châu Âu, từ Berlin tới Brussels, người ta lại đang nói về các chính sách phát triển công nghiệp.

Chính phủ Nhật Bản đang phản ứng lại cái mà họ coi là những chính sách ngày càng hung hăng của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài bằng cách thắt chặt thêm nữa mối liên hệ giữa giới doanh nghiệp và nhà nước.

Ở Mỹ, ông chủ thực sự của General Motors và cả một góc Phố Wall, TT Barack Obama, đã quay lưng lại với nguyên tắc tự do kinh doanh trước kia và sắp đưa ra sáng kiến phát triển các ngành chiến lược.

Mặc dù việc nhà nước tái can thiệp vào giới doanh nghiệp phần nhiều là do tăng trưởng kinh tế èo uột tại các nước giàu nhưng còn có các lý do thuyết phục khác nữa.

Sau bong bóng tài chính bất động sản, một số tên tuổi lớn như EADS và Rolls-Royce trong ngành hàng không vũ trụ đang hà hơi tiếp sức cho các chính sách hỗ trợ công nghiệp.

Dù làm thế khi ấy là đúng nhưng các gói cứu trợ và hàng tỷ đôla kích thích kinh tế khiến chính phủ lại quay về với thói quen can thiệp vào doanh nghiệp.

Vụ việc của hai gã khổng lồ cho vay mua nhà ở Mỹ, Fannie Mae và Freddie Mac, vừa cho thấy sự nguy hiểm khi nhà nước can thiệp (bảo đảm ngầm từ phía nhà nước bóp méo thị trường cho vay thế chấp mua nhà và gây ra những hậu quả tai hại) và sự gian truân nếu muốn từ bỏ: sau khi giải cứu cả đôi, chính quyền liên bang không có bất kỳ một kế hoạch nào để rút lui.

Giới chính trị phương Tây không thể không chịu tác động bởi thành công của những quốc gia mới nổi như Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc, nơi vai trò to lớn của nhà nước trong kinh doanh dường như rất hiệu quả.

9 trong số 30 công ty niêm yết lớn nhất trên thế giới nằm ở các nước mới nổi và có nhà nước là cổ đông chi phối.

Trong thập niên 80, lần cuối chính sách ngành còn được ưa chuộng, phương Tây kính sợ Nhật Bản và sự đi lên vững chắc của nước này, nay họ sửng sốt với Trung Quốc và chủ nghĩa tư bản nhà nước.

“Hỗ trợ từ Nhà nước”, thứ bùa mê đã cũ

Dù vậy, điều thần kỳ tại Trung Quốc chủ yếu là nhờ nhà nước đã cởi trói cho doanh nghiệp tư nhân và mở cửa hướng ra thế giới. Những người như Li Shufu, ông chủ hãng xe Geely vừa mới mua lại Volvo, là doanh nhân chứ không phải chính khách.

Ngành thuê làm ngoài và phần mềm thành công rực rỡ tại Ấn Độ không phải nhờ trợ giúp từ chính phủ mà chính xác là vì chính quyền chẳng hiểu mấy về ngành công nghiệp non trẻ này để mà bóp nghẹt nó.

Ở Brazil, người ta thường nói rằng chính nhờ chính sách phát triển công nghiệp tích cực mà nền kinh tế mới thịnh vượng thì có lẽ BNDES, một ngân hàng phát triển nhà nước đang nổi lên, đang hút cạn nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân.

Những công ty như Petrobras (dầu mỏ), Vale (khai mỏ) và Embraer (sản xuất máy bay) thực chất là do chính phủ thành lập. Nhưng chúng đều thành công vì được tư nhân hóa một phần và buộc phải cạnh tranh với các công ty nước ngoài từ thập niên 90.

Cạnh tranh và tư nhân hóa một phần nhanh chóng làm được những điều mà hàng chục năm chính sách phát triển công nghiệp không làm nổi.

Trong khi đó ở các nước giàu, hết lần này đến lần khác chính sách phát triển công nghiệp đều không có tác dụng.

Danh sách này bao gồm những thất bại đắt giá như Minitel (mạng viễn thông quốc gia của Pháp từ lâu đã bị Internet vượt mặt) và British Leyland (một công ty ô tô đã bị quốc hữu hóa).

Dù người ta đã nghĩ ra nhiều lời bào chữa để chính phủ vẫn tiếp tục chọn kẻ chiến thắng và xuê xoa với kẻ chiến bại nhưng đó vẫn là một ý nghĩ vừa cũ mòn, vừa nguy hại.

Nhờ toàn cầu hóa và sự nổi lên của nền kinh tế thông tin, chưa bao giờ các ý tưởng mới lại tiếp cận thị trường nhanh đến thế.

Không cơ quan nhà nước nào có thể tiên đoán được thành công của hệ máy bán cà phê Nespresso của Nestle, cũng như chẳng ai biết trước được xe bán tải, máy hút bụi và thảm sàn lại là những ngành phát triển nhanh nhất ở Mỹ trong thập niên 70 (đó cũng là những ví dụ của Charles Schultze, cựu Chủ tịch Hội đồng tư vấn kinh tế cho Tổng thống Hoa Kỳ, một người phản đối nền kinh tế kế hoạch).

Giới quan chức lờ đi tiềm năng sáng tạo trong sản phẩm tiêu dùng hay dịch vụ và bị quyến rũ bởi những lời cường điệu đang hợp thời về khu vực công nghệ cao.

Cuộc đua chung để tạo ra các việc làm xanh là ví dụ gần nhất. Dẫn đầu bởi Trung Quốc và Mỹ, hỗ trợ cho công nghệ xanh nhanh chóng trở thành một trong những chính sách ngành lớn nhất mọi thời đại.

Lóa mắt trước viễn cảnh năng lượng mặt trời, Tây Ban Nha đã trợ cấp cho ngành này nhiều đến nỗi năm 2008 quốc gia này lắp đặt thêm 40% công suất phát điện mặt trời của toàn thế giới. Họ đã cắt giảm trợ cấp nhưng vẫn còn một hóa đơn trị giá hàng tỷ đôla.

Chính phủ nên “hỗ trợ” theo cách nào?

Đương nhiên tiền ấy không phải đều lãng phí. Internet và lò vi sóng đều ra đời từ các nghiên cứu của chính phủ; những thứ lạ lùng chính phủ làm có thể thành công đến đáng ngạc nhiên.

Một số chính phủ như ở Mỹ và Israel góp phần hiệu quả vào bước phát triển ban đầu của mạng lưới đầu tư mạo hiểm.

Một số người chủ trương thực hiện các chính sách phát triển công nghiệp cho rằng cũng giống như một công ty dược, chính phủ đơn giản là nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Nhưng ứng xử như vậy với tiền của người nộp thuế thì thật phóng túng. Và lại luôn có thói xấu là rót ngân sách cho các dự án có dính dáng tới chính trị.

May mắn là nay đã có một số giới hạn chặt chẽ đối với khả năng can thiệp của chính phủ.

Giữa thời thắt lưng buộc bụng, họ không thể tiêu hoang vào những dự án công nghiệp ngông cuồng. Và luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu giới hạn khả năng trợ giúp đặc biệt cho một doanh nghiệp cụ thể.

Để bảo đảm vấn đề việc làm trong tương lai, cần một cách tiếp cận sáng suốt hơn.

Thứ nhất là những bước đi thẳng thắn để cải thiện môi trường kinh doanh như giảm tệ quan liêu, thị trường lao động linh hoạt hơn, cơ chế thuế và phá sản đơn giản hơn sẽ hiệu quả hơn so với trợ cấp cho một số khu vực và doanh nghiệp.

Thứ hai, chính phủ nên đầu tư vào cơ sở hạ tầng và hỗ trợ cho sáng tạo, từ hiện đại hóa đường dây tải điện (một cách thông minh hơn là hỗ trợ cho năng lượng xanh) tới nghiên cứu cơ bản và giáo dục đại học.

Thứ ba, thay vì tự lựa chọn người chiến thắng, chính phủ nên khuyến khích người chiến thắng tự mình vươn lên.

Chẳng có chính sách nào nêu trên khiến giới chính trị gia thích thú như việc đội mũ cứng rồi tự tay phát tiền trước ống kính máy quay. Nhưng lựa chọn thì chỉ có một: hãy nhớ lấy bài học của quá khứ hoặc nhà nước sẽ

Bích Phương
Theo Economist

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM