Sự
sụp đổ ngoạn mục của nhiều tập đoàn tài chính lớn trong cuộc khủng hoảng năm
2008 cũng cố thêm niềm tin rằng thị trường cổ phiếu trong thế giới tư bản chỉ là
thú lướt sóng nguy hiểm.
Dù
gì thì cổ đông của các tổ chức tài chính vẫn niêm yết đều hoan hỉ chúc tụng lẫn
nhau nếu lợi nhuận ngắn hạn cũng như giá cổ phiếu tăng cao nhờ liều lĩnh “đánh
bạc” với cái núi tiền khổng lồ đi vay mà có.
Hóa
ra những pha đặt cược ấy lại gây tác hại nghiêm trọng trong dài hạn đối với
doanh nghiệp, cổ đông cũng như toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Cổ
đông chẳng còn thoái mái viện tới giả thuyết thị trường hiệu quả để biện luận rằng
giá cổ phiếu tăng luôn phản ánh một viễn cảnh tốt đẹp hơn chứ không phải bất kỳ
một bong bóng nào cả.
Nếu
thị trường “dậy sóng” trong ngắn hạn,
doanh nghiệp và nhà đầu tư nào chỉ quyết
định dựa trên biến động giá cổ phiếu chẳng nên bất ngờ nếu họ có bị trừng phạt
trong dài hạn.
Vậy
thì nên làm gì để khuyến khích một tầm nhìn dài hạn hơn?
Một
ý tưởng đang nhận được nhiều sự ủng hộ là
nên để nhà đầu tư có thời gian nắm giữ cổ
phiếu đủ lâu có tiếng nói mạnh hơn trong việc quản lý công ty.
Ví
dụ như cổ đông có thời gian nắm giữ dài
nên nhận được thêm quyền bỏ phiếu hoặc cổ đông mới có thể bị cấm bỏ phiếu.
Đầu
thập kỷ 80, bình quân mỗi cổ phiếu trên Sàn giao dịch chứng khoán New York được trao tay
ba năm một lần. Ngày nay thời gian nắm giữ trung bình giảm còn 10 tháng.
Điều
đó lý giải mối quan ngại ngày càng tăng về nạn “lướt sóng”. Năm ngoái, một nhóm
các nhà đầu tư kỳ cựu tại Mỹ (gồm Warren Buffett, Felix Rohatyn và Pete
Peterson) đã xuất bản một báo cáo có tên “Khuất phục chiến thuật lướt sóng”.
Báo
cáo này đề xuất nhiều biện pháp khuyến khích giới đầu tư nắm giữ cổ phiếu lâu hơn,
gồm cả phong tỏa quyền bỏ phiếu của cổ đông mới trong vòng một năm.
Một
ủy ban tư vấn tại Hà Lan đã đề xuất các hình thức thưởng cho cổ đông dài hạn,
ví dụ như tăng cổ tức hay quyền bỏ phiếu sau khi đã nắm giữ cổ phiếu 4 năm.
Tương
tự, Bộ trưởng Khu vực tài chính Anh Paul Myners cho rằng cổ đông ngắn hạn nên
có ít quyền bỏ phiếu hơn.
Chủ
tịch Cadbury cho đến khi bị Kraft thôn tính gần đây, ông Roger Carr nghĩ nhà đầu
tư nào mua cổ phiếu một công ty sau khi công ty đó nhận được lời chào mua không
nên được phép bỏ phiếu về chính lời chào ấy.
Đứng
sau những đề xuất ấy là lý thuyết cho rằng ai nắm giữ cổ phiếu dài hạn sẽ hành
xử giống người chủ sở hữu hơn những ai chỉ chủ tâm lướt sóng.
Loại
dân lướt sóng sang một bên sẽ khuyến khích nhà đầu tư không chỉ nắm giữ cổ phiếu lâu hơn mà còn tận dụng quyền
bỏ phiếu của mình hơn, vì họ biết phiếu bầu của mình sẽ được tính tới khi bầu cử
hội đồng quản trị.
Cách
làm này có tác dụng không?
Đáng
mừng là một hệ thống cổ đông hai “cấp” đã được áp dụng từ lâu tại Pháp. Cổ phiếu
có quyền bỏ phiếu gấp đôi nếu được nắm giữ trong một thời gian nhất định thường
là 2 năm cho dù đôi khi lên tới 10 năm.
Một
nghiên cứu gần đây của Chiraz Ben Ali, nhà kinh tế tại ĐH Paris Dauphine cho thấy
tác động chính của cơ cấu hai “cấp” là tăng sự bất bình đẳng đối với cổ đông
thiểu số (thường sở hữu số cổ phiếu có ít quyền bỏ phiếu hơn).
Ví
dụ như kế toán thường ít minh bạch hơn.
Phải thừa nhận là cơ cấu bảo vệ cổ đông
thiểu số yếu ớt tại Pháp cũng một phần là kết quả của hệ thống hai “cấp” này.
Do đó, tăng quyền bỏ phiếu không phải là phương thuốc chữa bách bệnh.
Mặc
dù không doanh nghiệp Mỹ nào có nhiều “cấp” cổ đông, đôi khi họ lại sử dụng một
cơ chế khác để giải tỏa bớt áp lực tìm
kiếm lợi nhuận ngắn hạn: mỗi năm chỉ tái cử một thiểu số thành viên HĐQT.
Theo
Lucian Bebchuk từ Trường Luật Havard, lợi nhuận dài hạn của các công ty theo cơ
chế này lại thường thấp hơn.
Ngắn
hăng hái, dài thờ ơ
Công
bằng mà nói, có bằng chứng dù chưa hẳn đã
thuyết phục cho thấy cổ đông ngắn hạn như các quỹ đầu cơ có thể cải thiện hoạt động
của các doanh nghiệp được điều hành kém thông qua một chiến dịch ngắn ngày.
Colin
Melvin, ông chủ của Hermes Equity Ownership Services, chỉ ra rằng, “Phân biệt
quyền bỏ phiếu có thể giúp bảo vệ ban quản trị an toàn hơn nhưng lại làm họ thiếu
trách nhiệm với cổ đông hơn.”
Nói
tóm lại, thời gian nhà đầu tư nắm giữ một
cổ phiếu không cho thấy người này hứng thú với việc điều hành doanh nghiệp đến đâu.
Nhiều
nhà đầu tư chỉ số dài hạn nắm giữ cổ phiếu
nhiều năm mà chẳng quan tâm gì đến chuyện doanh nghiệp họ đầu tư được điều hành
ra sao.
Đương
nhiên cũng có lập luận về tính đạo đức của việc tước quyền của người sở hữu tài
sản cho dù họ có hiếm khi dùng tới nó đến
đâu.
Vấn
đề cốt lõi không phải là làm thế nào để khuyến khích nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu
lâu hơn mà là làm thế nào để khuyến khích họ làm tròn trách nhiệm của một người
chủ sở hữu hơn bất chấp thời hạn nắm giữ có là bao lâu.
Thay
vì tạo ra một hệ thống cổ đông nhiều “cấp”,
chính phủ và các cơ quan giám sát có thể
dành thời gian chuẩn hóa khái niệm “trách nhiệm ủy thác” trong lĩnh vực tài
chính.
Tốt
hơn là những nhà đầu tư nào đã mất tiền
trong cuộc khủng hoảng tài chính một phần vì chiến thuật lướt sóng mà họ theo đuổi nên tự lo cho chính mình bằng
cách đòi những quỹ hỗ tương, quỹ lương hưu họ đã gửi gắm tiền bạc nên có một tầm
nhìn dài hơi hơn nữa.
Theo Minh
Tuấn
Dân Trí/Economist