TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Điều hành tiền tệ ở châu Á: Con dao hai lưỡi

08-01-2012 - 09:13 AM | Tài chính quốc tế

Điều hành tiền tệ ở châu Á: Con dao hai lưỡi

Hai cách điều hành trái ngược của Nhật Bản và Trung Quốc đối với đồng nội tệ đã lột tả tình thế tiến thoái lưỡng nan mà các nhà hoạch định chính sách ở châu Á đang đối mặt.

Biến động dữ dội của các loại tiền tệ châu Á trong năm 2011 đã chứng kiến đồng yen của Nhật Bản và nhân dân tệ của Trung Quốc tăng mạnh so với đô la Mỹ. Xu hướng tăng giá của hai loại tiền tệ này được các chuyên gia dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2012.

Điều hành tỷ giá: dao hai lưỡi

Trong khi Nhật Bản chủ động tìm cách kìm hãm sự tăng giá của đồng yen khiến Mỹ lên tiếng chỉ trích vào tuần trước thì Trung Quốc can thiệp giúp nhân dân tệ tăng lên mức cao mới so với đô la Mỹ vào thời điểm kết thúc năm. Trong năm 2011, cả hai loại tiền tệ trên đã tăng giá gần 5% so với đô la Mỹ.

Hai cách điều hành trái ngược của Nhật Bản và Trung Quốc đối với đồng nội tệ đã lột tả tình thế tiến thoái lưỡng nan mà các nhà hoạch định chính sách ở châu Á đang đối mặt khi tìm cách điều hành biến động tỷ giá hối đoái mà đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dịu lại. Chính sách điều hành tiền tệ dù theo hướng nào cũng như con dao hai lưỡi.

Nếu đồng yen và nhân dân tệ tăng giá mạnh, xuất khẩu của Nhật Bản và Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng vì chi phí tăng nhưng sẽ giúp Trung Quốc kiềm chế lạm phát (Nhật Bản không muốn điều này do giảm phát kéo dài). Ngược lại, nếu hai đồng tiền này quá yếu, lạm phát nhập khẩu (lạm phát do phải nhập hàng hóa và nguyên vật liệu với giá cao) sẽ tăng và sức mua nội địa sẽ suy giảm.

Singapore và Hàn Quốc là hai minh chứng cho thấy lạm phát có thể duy trì ở mức cao ngay cả khi nhu cầu toàn cầu suy giảm khiến xuất khẩu ở hai nước này giảm và tăng trưởng kinh tế bị chậm lại. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là đồng đô la Singapore và đồng won giảm giá so với đồng bạc xanh trong năm 2011.

Nhật Bản đã phải vật lộn chống giảm phát trong hai thập kỷ qua, giá cả hàng hóa tăng là sự thay đổi được chờ đón. Do vậy, Nhật đã can thiệp thị trường tiền tệ ba lần trong năm 2011 để làm cho đồng yen yếu đi, một lần với sự hỗ trợ của nhóm các nước công nghiệp G7 sau thảm họa động đất, sóng thần và hai lần khác do ngân hàng trung ương Nhật Bản đơn phương mua vào đô la Mỹ và bán ra đồng yen.

Mỹ muốn đồng đô la không tăng giá quá mạnh

Động thái can thiệp, kìm hãm đồng yen tăng giá khiến chính quyền Washington tức giận. Trong bản báo cáo trước quốc hội ngày 27-12 về tình hình tiền tệ thế giới, Bộ Tài chính Mỹ khẳng định Mỹ không ủng hộ sự can thiệp như trên và yêu cầu Nhật Bản phải thực hiện một số biện pháp để tăng tính năng động của nền kinh tế trong nước.

Mỹ muốn đồng đô la yếu đi một chút, hay nói cách khác là không tăng giá mạnh, để tăng tính cạnh tranh của hàng hóa Mỹ, giúp nền kinh tế phục hồi nhanh hơn. Mỹ lo ngại động thái can thiệp đồng yen của Nhật sẽ tạo ra làn sóng giảm giá tiền tệ trên toàn cầu so với đồng đô la.

Bản báo cáo tiền tệ mỗi hai năm của Bộ Tài chính được Quốc hội Mỹ yêu cầu thực hiện từ năm 1988 khi mất cân đối thương mại với Nhật Bản trở thành mối lo ngại lớn. Gần đây, mối lo ngại này là nguồn cơn khiến Mỹ hục hặc với Trung Quốc.

Ngay cả sự chỉ trích chính phủ Nhật Bản ghìm giá đồng yên mới đây cũng có thể được hiểu là một thông điệp ngầm nhằm vào Bắc Kinh.

Nếu Bộ Tài chính Mỹ kết luận nước nào đó đang thao túng đồng nội tệ để giành lợi thế thương mại, cơ quan này có thể yêu cầu gây sức ép để nắn lại chính sách của nước đó. Một số nghị sĩ, doanh nghiệp và công đoàn muốn Mỹ gán cho Trung Quốc tội thao túng tiền tệ nhưng Bộ Tài chính lại từ chối làm như vậy trong bản báo cáo mới đây. Tuy nhiên, Bộ Tài chính nhắc đến Trung Quốc nhiều gấp đôi Nhật Bản.

Yếu tố chính trị có thể chi phối đến bản báo cáo tiền tệ nhưng nếu quan sát kỹ giao dịch nhân dân tệ so với đô la Mỹ gần đây thì Bắc Kinh có thể xứng đáng được “ân xá”.

Từ lâu, Mỹ lập luận đồng nhân dân tệ mạnh sẽ tạo ra ưu thế tốt nhất cho Trung Quốc, giúp giảm áp lực lạm phát và tăng cường sức mua trong nước. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã siết chặt biến động của nhân tệ với đô la Mỹ bằng cách đặt ra biên độ tăng giảm 0,5% so với giá tham chiếu của ngày hôm trước (mức giá trung bình của ngày hôm trước).

Trong nửa đầu tháng 12-2011, nhân nhân tệ được giao dịch trong biên độ ngày càng hẹp, một phần vì nhu cầu đồng đô la Mỹ, một phần phản ánh lo ngại nền kinh tế Trung Quốc có thể chệch choạc khi nhu cầu xuất khẩu chậm lại và thị trường nhà đất suy giảm.

Tuy nhiên, trong ngày 16-12 và ngày 30-12, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc lại đẩy tăng biên độ giao động của nhân dân tệ. Động thái này giúp nhân dân tệ tăng 4,7% so với đô la Mỹ trong năm 2011 mặc dù xuất khẩu của Trung Quốc đã hạ nhiệt trong sáu tháng qua và thậm chí có thể chậm thêm nữa trong năm 2012.

Sự biến động theo chiều tăng của nhân dân tệ khiến Mỹ khó nói Trung Quốc cố ý làm suy yếu nhân dân tệ để giành lợi thế thương mại. Cựu Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Thế giới (WB) ở Trung Quốc Yukon Huang nói: “Lập luận này tỏ ra yếu thế khi Trung Quốc có xu hướng giảm dần thặng dư thương mại”.

Năm 2012, châu Á sẽ thay đổi chính sách tỷ giá?

Tại sao Trung Quốc muốn nhân dân tệ mạnh lên vào thời điểm này? Các chuyên gia cho rằng nhân dân tệ sẽ giúp tháo gỡ căng thẳng chính trị với Mỹ và có thể vô hiệu hóa lạm phát nhập khẩu. Tỷ lệ lạm phát năm 2011 của Trung Quốc đã giảm mạnh kể từ khi chạm mức đỉnh 6,5% vào tháng 7-2011 nhưng vẫn còn cao mức mục tiêu 4% của chính phủ.

Hiện tại, giá dầu thô trên thị trường New York giao dịch quanh ngưỡng 100 đô la Mỹ/thùng dù tình hình kinh tế thế giới ảm đạm nhưng giá dầu khó gây thêm cú sốc nữa để trở lại mức đỉnh 115 đô la Mỹ/thùng vào tháng 5-2011. Điều này khiến chính sách điều hành tiền tệ ở khu vực châu Á càng thêm khó khăn.

Ngoài đồng yen và nhân dân tệ, hầu hết tiền tệ châu Á đều giảm giá so với đồng đô la trong năm 2011. Hàn Quốc, Indonesia và Ấn Độ đang tìm cách can thiệp để khống chế mức độ biến động của đồng nội tệ nhưng nhiều nước châu Á khác muốn để nội tệ giảm từ từ. Điều này có thể thay đổi trong năm 2012. Chẳng hạn, trong năm 2011, Singapore đã sử dụng tỷ giá hối đoái như công cụ chính sách quan trọng. Nước này kìm hãm, không để đô la Singapore tăng giá nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, điều này lại khiến nước này có nguy cơ bị lạm phát nhập khẩu. Lạm phát hàng năm của Singapore bất ngờ tăng 5,7% trong tháng 11-2011. Trong năm 2012, Singapore chắc chắn phải xem lại chính sách điều hành tỷ giá hối đoái.

Tại Hàn Quốc, chỉ số hoạt động sản xuất trong tháng 12-2011 giảm về mức thấp nhất trong gần ba năm qua nhưng lạm phát lại cao hơn mức mục tiêu mà ngân hàng trung ương Hàn Quốc đề ra. Tuần trước, Hàn Quốc cho biết sẽ việc chống lạm phát tiếp tục là chính sách ưu tiên trong năm 2012. Điều này gợi ý rằng Seoul có thể cân nhắc lại chính sách cho phép đồng won suy giảm so với đô la Mỹ.

Theo Chánh Tài

Thời báo kinh tế Sài Gòn

ngocdiep