TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Economist: Hãy sám hối vì những phút giây hoang phí (Phần 1)

27-06-2010 - 08:35 AM | Tài chính quốc tế

Economist: Hãy sám hối vì những phút giây hoang phí (Phần 1)

Vay mượn là câu trả lời cho mọi vấn nạn kinh tế suốt 25 năm qua. Nay chính nợ nần đã trở thành vấn nạn lớn nhất.

CafeF trân trọng gửi tới bạn đọc loạt Báo cáo đặc biệt về nợ nần của tờ The Economist. Loạt bài đề cập tới vấn đề nợ của người tiêu dùng, doanh nghiệp, chính phủ cũng như tác động to lớn của nó tới nền kinh tế các quốc gia phát triển.

Con người sinh ra tự do nhưng lại nợ nần khắp mọi nơi. Ở các nước giàu, có trong tay chiếc thẻ tín dụng đầu tiên là một dấu mốc quan trọng hơn nhiều so với bỏ lá phiếu đầu tiên. Mua căn nhà đầu tiên thường cũng tốn cỡ vài lần thu nhập hàng năm. Và dù cho có tự tiết chế mình trước cám dỗ vay mượn, bạn vẫn có phần của mình trong tổng nợ quốc gia.

Trong suốt hai thập kỷ 80 và 90, mức nợ tăng đi kèm với cái mà các nhà kinh tế gọi là “thời kỳ ổn định lớn”, khi tăng trưởng vững chắc còn lạm phát và thất nghiệp được giữ ở mức thấp. Các ngân hàng phương Tây không còn phải tăng lãi suất để ngăn chặn bùng nổ tiêu dùng. Cho đến đầu những năm 2000, một chương trình tài trợ tự động khổng lồ ở tầm quốc tế đã được khởi động. Trung Quốc và các nước xuất khẩu dầu mỏ chất đống những khoản thặng dư tài khoản vãng lai rồi đem tiền ấy cho các nước phát triển vay lại để họ có thể tiếp tục mua hàng hóa của mình.

Những ai thận trọng với mức độ nợ tăng lên bị coi là “chim lợn”; rút cục, giá tài sản tăng thậm chí còn nhanh hơn nên bảng cân đối kế toán trông thật lành mạnh. Trong một nền kinh tế sôi động, con nợ có thể trả được lãi vay mà không phá sản. Nói ngắn gọn, trả để cho vay mà trả cũng là để đi vay.

Bùng nổ nợ nần cũng mang lại trạng thái lâng lâng như uống rượu. Giao dịch viên và nhà đầu tư thấy giá tài sản tăng như là bằng chứng cho sự thông tuệ của mình; ngân hàng trung ương và chính phủ nghĩ thị trường và doanh thu thuế đều tăng tức là chính sách của mình đúng đắn.

Câu trả lời cho mọi vấn đề có vẻ như là đi vay thêm. Hết tiền? Dùng thẻ tín dụng mà mua hàng “vì bạn xứng đáng với điều đó”. Giàu nhanh? Làm việc cho một quỹ đầu cơ hay một công ty vốn cổ phần nào đó, dùng tiền đi vay mà tăng lợi nhuận. Muốn công ty tăng trưởng nhanh? Vay tiền mà mua lại công ty khác. Và nếu nền kinh tế có lỡ lâm vào suy thoái, chính phủ sẽ chịu thâm hụt để kích thích chi tiêu. Khi các nước EU hội đàm vào tháng 5 để giải quyết cuộc khủng hoảng Hy Lạp, họ đề xuất một chương trình cứu trợ trị giá 750 tỷ euro chủ yếu lại là từ tiền đi vay.

Nợ ở mọi cấp độ đều tăng lên, từ người tiêu dùng, doanh nghiệp tới toàn bộ quốc gia. Tác động của nó tới mỗi nước là khác nhau, nhưng một điều tra của Viện toàn cầu McKinsey cho thấy tổng nợ trung bình (nợ của cả hai khu vực công cộng và tư nhân) ở 10 nền kinh tế phát triển đã tăng từ 200% GDP năm 1995 lên mức 300% GDP năm 2008. Con số này ở Iceland và Ireland thậm chí còn choáng váng hơn, 1200% và 700%. Gánh nặng ấy là quá sức đối với cả hai nước khiến họ lâm vào khủng hoảng tài chính. Những cơn bấn loạn như thế là một dấu hiệu cho thấy mắc nợ không còn là giải pháp tức thời như trước kia. Thị trường chỉ khởi sắc được đứng có một phiên sau gói cứu trợ Châu Âu dành cho Hy Lạp trước khi sự nghi ngại lại bao trùm.

Từ đầu năm 2007 đã có những dấu hiệu cho thấy các nền kinh tế đã đạt tới giới hạn nợ nần. Khả năng kích thích tăng trưởng của nợ giảm dần. Theo Leigh Skene từ Lombard Street Research, mỗi đôla nợ thêm tạo ra ngày càng ít tăng trưởng.

Nói không với vòng xoáy nợ nần

Một câu hỏi lớn là liệu cảnh liên tục vay nợ mà Martin Barnes từ nhóm nghiên cứu Bank Credit Analyst đã gọi là “siêu vòng xoáy nợ nần” ấy đã đến hồi kết. Giảm nợ đã trở thành một vấn đề chính trị nóng bỏng. Những người biểu tình trên đường phố Athens xuống đường để chống lại “những kẻ độc tài của thị trường” đang áp đặt các chương trình thắt lưng buộc bụng đối với nền kinh tế Hy Lạp. Các nhà hoạt động “tiệc trà” (tea-party) ở Mỹ giận dữ vì hàng ngàn tỷ đôla thâm hụt và chính phủ can thiệp vào nền kinh tế ngày càng nhiều hơn. Cơn giận của họ đã làm đảo lộn những toan tính của lãnh đạo cả hai phe Dân chủ và Cộng hòa.

Để hiểu được vì sao nợ nần lại là gánh nặng chứ không phải ân huệ, cần phải quay trở lại những nguyên lý cơ bản nhất. Tại sao dân chúng, doanh nghiệp và quốc gia lại vay nợ? Một câu trả lời rõ ràng là đó là cách duy nhất để duy trì mức tiêu thụ mong muốn. Một lý do lạc qua nữa là họ tin tưởng lợi nhuận có được từ tiền đi vay lớn hơn chi phí lãi vay. Quan trọng nhất là chủ nợ phải tin rằng thu nhập của con nợ sẽ tăng; nếu không họ sao có thể trả vốn và lãi?

Nhưng ở nhiều nơi trong số các nước giàu, sự lạc quan đó nay đã bị đặt lầm chỗ. Dân số già đi còn lực lượng lao động co lại, nền kinh tế của họ tăng trưởng ngày càng chậm so với trước kia. Họ đã vay mượn từ tương lai, dùng những món nợ ấy để thụ hưởng một tiêu chuẩn sống không bền vững. Hy Lạp là một ví dụ rõ rệt. Standard & Poor’s ước tính GDP nước này cho đến năm 2017 mới quay trở lại mức của năm 2008.

Tăng nợ chính phủ là một kế hoạch Ponzi cần phải có dân số tăng trưởng mãi mãi để gánh nợ trên vai, trừ khi có một “vị cứu tinh” thúc đẩy tăng trưởng nào đó, ví dụ như đột phá công nghệ. Như Roland Nash, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu tại Ngân hàng đầu tư Renaissance Capital, nói: “Liệu phương Tây với những ngành sản xuất chịu điều tiết, lao động kém cạnh tranh và chính phủ cồng kềnh, có thể chi trả nổi cho một mức sống chỉ có được nhờ đi vay và một khu vực công ngày càng đắt đỏ?”

Vỡ nợ quốc gia đã không còn là điều không thể. Nhiều người đang dự đoán bất chấp bói cứu trợ của EU và IMF, Hy Lạp vẫn sẽ không thể trả nợ đầy đủ và đúng lúc. Trước hai lựa chọn trừng phạt dân mình với các chương trình thắt lưng buộc bụng và làm phật ý chủ nợ nước ngoài, các nước sẽ thấy làm người ngoài thất vọng dễ dàng hơn. Trong quá khứ vỡ nợ là chuyện thường. Adam Smith, cha đẻ của kinh tế học, đã viết trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” rằng “khi nợ quốc gia tăng lên tới một mức nhất định, tôi tin rằng hiếm có khi nào nó được thanh toán đầy đủ và sòng phẳng.”

Các chính phủ đang đối mặt với một thời kỳ thật nan giải với gánh nặng nợ nần treo trước mặt, phải quyết định cắt giảm thâm hụt nhanh đến đâu (cũng đồng nghĩa với đe dọa tới tăng trưởng), và cố phân phối những cay đắng ấy công bằng nhất có thể.

Nợ thường được coi là một vấn đề đạo đức cũng như kinh tế. Margaret Atwood trong cuốn “Thanh toán: Nợ và mặt trái của sự giàu có”, lưu ý rằng trong tiếng Syria, “nợ nần” là nghĩa khác của từ “tội lỗi”. Trong một số phiên bản của bài kinh Chúa Jesus đã dạy các tông đồ, người dạy “xin hãy tha thứ cho nợ nần của chúng con” thay vì “xin hãy tha thứ cho tội lỗi của chúng con”.

Chiến dịch Live 8 năm 2005 cố làm cho các nước phát triển cảm thấy hổ thẹn mà xóa nợ cho các nước nghèo, đặc biệt là các nước vùng Hạ Sahara. Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm “món nợ ghê tởm” trong đó dân chúng buộc phải trả tiền mà những kẻ bạo chúa hủ bại đã vay. Lãi vay từ các khoản nợ ấy thường bị coi là gánh nặng trên vai người nghèo; lãi vay bị coi là tội lỗi, một ý niệm đã có từ thời Aristotle và được ám chỉ trong tư tưởng của Thiên Chúa giáo về cho vay nặng lãi. Hồi giáo cũng cấm ngặt cho vay lấy lãi. Sách kinh Do Thái cho rằng cứ mỗi 7 năm lại nên xóa nợ một lần, điều ấy hãy còn cho tới phong tục của người Do Thái sau này.

Nhưng đạo đức xã hội không phải lúc nào cũng đứng về phía người đi vay. Một số người coi nợ nần là con đường đi tới lụn bại và không trả được nợ tức là đã phản bội lại niềm tin. Trong hai thế kỷ 18 và 19, con nợ ở Anh thường bị tống giam, mặc dù Samuel Johnson đã nhận ra chỗ sai lầm của tập tục này: “Chúng tôi tống giam con nợ hết thế hệ này đến thế hệ khác mà không thấy số lượng họ giảm xuống. Nay chúng tôi đã học được rằng không thể loại trừ sự bất cẩn và khinh suất khỏi chuyện đi vay; hãy để chúng tôi thử xem liệu có dễ dàng hạn chế được sự lừa đảo và thói tham lam khi cho vay hay không.”

Còn tiếp...

Minh Tuấn
Theo Economist

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM