TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Hãy hạ bệ giới kinh tế học!

12-09-2010 - 07:05 AM | Tài chính quốc tế

Hãy hạ bệ giới kinh tế học!

Nếu khoa học là phải dự báo được tương lai thì khó có thể coi kinh tế học là một môn khoa học.

Tác giả bài viết là ông Gideon Rachman, bình luận viên trưởng về các vấn đề quốc tế của tờ Financial Times. Ông tốt nghiệp ngành Lịch sử trường ĐH Cambridge năm 1984. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

Khi kinh tế gia từng đoạt giải Nobel Paul Krugman tranh biện với nhà sử học nổi tiếng Niall Ferguson về giải pháp đối phó với khủng hoảng kinh tế tốt nhất, GS Ferguson đã khiêm nhường mà mỉa mai rằng: “Chú mèo nhỏ dám ngó mặt vua, và đôi khi một nhà sử học có thể thách thức một nhà kinh tế.”

Với tư cách chủ nhân của một chú mèo Chartreux xám và một người tốt nghiệp đại học ngành lịch sử, tôi tin rằng đã đến lúc đảo ngược cái trật tự vô hình của tầng lớp trí thức.

Mèo con phải giương vuốt xé toang cái thói kẻ cả hoàng thất. Thói tự phụ của các nhà kinh tế cần phải bị thách thức.

Trên hết, cần phải hoài nghi hơn về tính chính xác, khoa học trong những lời quả quyết vốn được tô điểm bởi những mô hình và phương trình của họ.

Khi kinh tế thế giới còn tiến triển tốt, danh giá của giới kinh tế liên tục đi lên. Họ là những quân sư của kỷ nguyên toàn cầu hóa.

Chính phủ, ngân hàng đầu tư, công ty tư vấn đổ xô đi thuê các nhà kinh tế, những người được cho là đang sở hữu những thông tin và kỹ năng vô cùng cần thiết.

Ngược lại, người ta nhìn sử gia chẳng khác nào phường chèo. Đó chỉ là mấy tay chuyên đào bới sách vở, thiếu phương pháp khoa học, đem chiếu trên TV thì được chứ với chính phủ hay các HĐQT thì chẳng được tác dụng gì.

Kể từ khi khủng hoảng tài chính bùng nổ, ngay trong giới kinh tế học đã có những người tự vấn bản thân.

Một nhà kinh tế đoạt giải Nobel khác, ông Joseph Stiglitz, đã gợi ý rằng: “Nếu như tính chất của khoa học là khả năng dự báo tương lai thì việc đa phần giới kinh tế không thấy được khủng hoảng đang ập tới là một điều rất đáng lo ngại.”

Dù vậy kết luận của GS Stiglitz lại nhẹ nhàng một cách đáng thất vọng: các nhà kinh tế đơn giản chỉ phải tìm kiếm một mô hình mới, và rồi có lẽ lại quay trở về với việc đưa ra các dự đoán “khoa học”.

Với những người từng học tập để trở thành sử gia, lời mở đầu của GS Stiglitz rõ ràng có thể thay thế bằng một kết luận khác. Kết luận đó là toàn bộ những nỗ lực coi kinh tế học là một “môn khoa học dựa trên khả năng dự báo tương lai” là sai lầm.

Cuộc tranh luận hiện nay gợi tôi nhớ đến một buổi nói chuyện sau bữa tối vào giữa thập niên 80 của GS Hoàng gia (Regius professor) về lịch sử hiện đại tại ĐH Cambridge.

Elton cho rằng nhiệm vụ của giới sử học là tập trung vào những chi tiết và sự kiện để mà phá tan thói tự phụ của các nhà khoa học xã hội cùng với những nỗ lực liên tục nhưng vô dụng của họ nhằm rút ra những quy luật chung có thể dự báo trước từ nghiên cứu quá khứ.

Với tôi khi ấy nhận định này về vai trò của giới sử học tiêu cực mà bảo thủ một cách kỳ lạ. Dường như nhiệm vụ của chúng tôi đơn giản chỉ là giơ tay lên rồi nói: “Ông bạn ơi, thực ra thì nó phức tạp hơn thế đấy.”

Nhưng trong bối cảnh hiện nay của giới trí thức, dường như Elton đã nói một điều rất quan trọng. Ông đang bảo vệ phương pháp kinh nghiệm chủ nghĩa và đặt ra ranh giới cho việc nên hy vọng tìm thấy cái gì trong quá khứ.

Các nhà sử học hiểu rằng các công trình của họ không thể sử dụng được để dự đoán tương lai.

Lịch sử có thể đưa ra các bài học, điểm tương đồng hay sự suy xét sáng suốt, nhưng nó không thể đưa ra những quy luật xã hội học chính xác như quy luật vật lý.

Dù vậy, đó dường như lại chính là khát vọng của nhiều nhà kinh tế vốn vốn có tiếng là “tỵ hiềm với giới vật lý” (“physics envy”).

Ai đó có thể đáp rằng chỉ trích như thế là phóng đại tính “cứng” của các môn khoa học chính xác như vật lý và tính “mềm” của kinh tế học.

Có lẽ vậy: nhưng phải nhắc lại rằng các tòa nhà xây dựng dựa trên các quy luật vật lý thì thiên thu vạn đại trong khi hệ thống chính sách và giao dịch dựa trên các “quy luật” kinh tế lại có thói quen “sụp đổ“.

Dù vậy giới kinh tế có lẽ sẽ chẳng từ bỏ niềm tin rằng môn khoa học của mình đang “tiến lên” và giải quyết các vấn đề giống hệt như các môn khoa học chính xác như vật lý hay hóa học.

Đương kim Chủ tịch FED Ben Bernanke thể hiện niềm tin này trong một bài phát biểu nổi tiếng năm 2004 về “Thời kì ổn định lớn” trong đó ông cho rằng “các bất ổn vĩ mô đã giảm rất nhiều”, chủ yếu là vì chính sách tiền tệ được cải thiện nhờ các tư tưởng kinh tế.

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính theo sau đó đáng lẽ đã làm sứt mẻ niềm tin nơi các thành viên của một số trường phái kinh tế học.

Nhưng cuộc suy thoái hiện nay không làm nhiều nhà kinh tế thôi đi theo một niềm tin còn vững chắc hơn rằng vẫn còn những “quy luật” nào đó ngoài kia chờ đợi người khám phá.

Tuy vậy, thay vì bắt chước các nhà vật lý, có lẽ đã đến lúc giới kinh tế nên học chút gì đó từ lịch sử, chính xác hơn là từ các sử gia.

Nghiên cứu lịch sử nghiêm túc có từ thời Herodotus thế kỷ 5 TCN. Dù vậy các nhà sử học hiện nay khiêm tốn hơn nhiều so với các nhà kinh tế. Giới sử học biết rằng không có câu hỏi lớn nò từng được giải đáp một cách xác đáng.

Họ biết rằng mọi chủ đề to tát và thú vị sẽ được đào đi xới lại từ nhiều góc nhìn khác nhau. Mỗi thế hệ sẽ nhìn lại quá khứ và đưa ra nhận định của riêng mình.

Với một người thực dụng, có lẽ khó nhận ra thế giới quan hữu dụng ở chỗ nào. Nhưng có lẽ đã đến lúc thay thế những quy luật nửa mùa của những nhà khoa học giả hiệu mang danh nhà kinh tế học.

Minh Tuấn
Theo Economist

ngocdiep