TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Kinh tế học “vô dụng” trong nhận diện và giải quyết khủng hoảng

23-07-2009 - 11:07 AM | Tài chính quốc tế

Kinh tế học “vô dụng” trong nhận diện và giải quyết khủng hoảng

Trong số tất cả những bong bóng kinh tế đã bị chọc thủng cho đến nay, không có nhiều bong bóng vỡ ngoạn mục như uy tín của kinh tế học.

Một vài năm trước, môn khoa học buồn tẻ này được coi như một cách giải thích cho hành vi của con người, từ kinh doanh thuốc cho đến vật sumô.

Phố Wall tìm kiếm khắp các trường đại học để có được chuyên gia về lý thuyết trò chơi và mô hình quyền chọn. Công chúng coi trọng các chuyên gia kinh tế học hơn cả chính trị gia. Thượng nghị sỹ John McCain từng hóm hỉnh về Alan Greenspan, người từng là chủ tịch FED trong khoảng thời gian dài, rằng ông có vai trò không thể thay thế được đến nỗi nếu ông mất, Tổng thống sẽ vẫn đưa ông ra làm một hình mẫu.

Thế giới trải qua thảm hoạ kinh tế tệ hại nhất trong 80 năm, uy tín của các chuyên gia kinh tế học chịu ảnh hưởng tệ hại. Dù các chuyên gia kinh tế học vẫn ở vị trí trung tâm trong các lần tranh luận về chính sách, đó là ông Ben Bernanke, Larry Summers tại Mỹ hay Mervyn King tại Anh, tuyên bố của các chuyên gia này hiện hứng chịu sự hoài nghi và chỉ trích hơn rất nhiều so với trước đây.

Trong bài phát biểu gần đây, kinh tế gia đạt giải Nobel năm 2008, ông Paul Krugman cho rằng phần lớn những lý thuyết kinh tế vĩ mô được nghiên cứu trong suốt 30 năm qua nếu nói nhẹ nhất là hết sức vô dụng và nếu nói theo cách tệ hại nhất còn gây hại. Ông Barry Eichengreen, chuyên gia lịch sử kinh tế nổi tiếng, nhận xét cuộc khủng hoảng đã khiến người ta nghi ngờ về hiểu biết của chính họ về kinh tế học.

Ý tưởng cho rằng tất cả các lý thuyết kinh tế chỉ đáng bỏ đi, những lời chỉ trích hiện tại đã đi quá xa. Nếu sự ngu dốt trước đây đã khiến nhà đầu tư và các chính trị gia phóng đại giá trị của kinh tế học thì nay chính điều đó lại khiến họ mù quáng với những lợi ích của lý thuyết đó. Kinh tế học giống như một tín ngưỡng hơn một lăng kính qua đó để hiểu thế giới. Kinh tế học là một hệ thống các quy tắc và lý thuyết với phạm vi từ việc định giá như thế nào cho đến các nền kinh tế tăng trưởng ra sao. Tất cả những lý thuyết đó không có liên hệ nào với khủng hoảng tài chính và vẫn có tác dụng.

Và nếu kinh tế học trong vai trò một hệ thống các quy tắc đáng được bảo vệ, mô hình thị trường tự do cũng xứng đáng được như vậy. Một số chuyên gia kinh tế châu Âu đã mắc phải một số sai lầm bởi thiếu tư tưởng tự do kinh tế. Lôgic của họ thông thường là nếu các chuyên gia kinh tế sai lầm, chính trị gia sẽ có thể làm tốt hơn. Đây là một kết luận hết sức sai lầm và nguy hiểm.

Hai lĩnh vực trung tâm của kinh tế học bao gồm kinh tế học vĩ mô và kinh tế học tài chính đang được xem xét lại. Hiện nay tồn tại 3 hướng chỉ trích, chuyên gia kinh tế học vĩ mô và tài chính đã góp phần gây ra khủng hoảng, thế nhưng họ không thành công trong việc cảnh báo sớm khủng hoảng và không đưa ra cách giải quyết khủng hoảng.

Ý kiến chỉ trích đầu tiên chỉ đúng một nửa. Chuyên gia kinh tế học vĩ mô, đặc biệt trong các Ngân hàng Trung ương, quá quan tâm đến kiềm chế lạm phát và cực thận trọng với bong bóng tài sản. Chuyên gia kinh tế học tài chính, trong khi đó, chuẩn hóa lý thuyết thị trường hiệu quả, họ đề cao lý thuyết thị trường sẽ tự điều tiết và cải cách trong ngành tài chính luôn luôn có lợi. Những công cụ tài chính phức tạp trên phố Wall được xây dựng trên những ý tưởng này.

Thế nhưng chuyên gia kinh tế rất hiềm khi là các tín đồ ngây thơ của lý thuyết thị trường hiệu quả. Suốt 30 năm qua, nhiều học giả ngành tài chính dành thời gian chỉ ra khiếm khuyết của lý thuyết thị trường hiệu quả. Gần đây có hai chuyên gia kinh tế nổi tiếng trong lĩnh vực này bao gồm Joseph Stiglitz and Andrei Shleifer. Kinh tế học hành vi, một lĩnh vực nghiên cứu mới nổi lên, tập trung chủ yếu vào nghiên cứu hậu quả của các hành vi thiếu trách nhiệm.

Có rất nhiều yếu tố cảnh báo. Thế nhưng trong bối cảnh của phố Wall, những lời cảnh báo đó đã bị dẹp sang một bên. Một số giả thuyết ngớ ngẩn đã được đưa ra. Không một lý thuyết kinh tế nào cho rằng người ta nên định giá các phái sinh dựa rên nền tảng giá giá đất luôn tăng.

Các giáo sư tài chính không phải chịu trách nhiệm cho điều này, thế nhưng họ có lẽ nên công khai nói rằng quan điểm của họ đang bị sử dụng sai lệch. Trên thực tế nhiều người lại tung hô điều đó (đặc biệt từ bên trong các ngân hàng).

Quan điểm chỉ trích về việc các chuyên gia kinh tế không cảnh báo sớm được khủng hoảng cũng có giá trị nhất định. Trên thực tế, có một số chuyên gia đã cảnh báo từ trước về những rắc rối. Giáo sư Robert Shiller thuộc đại học Yale, Nouriel Roubini thuộc đại học New York và nhiều chuyên gia thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) hết sức nổi tiếng với dự báo của họ. Thế nhưng phần lớn trong số họ cũng không nhận thức được hậu quả sẽ tệ hại đến mức nào.

Nguyên nhân của điều này bắt nguồn từ yếu tố chuyên môn, điều này hạn chế công cụ và khả năng dự báo của họ. Rất ít chuyên gia kinh tế tài chính nghĩ nhiều về những rủi ro thiếu thanh khoản bởi mô hình chuẩn của họ không tính đến điều đó, rất ít người nghĩ đến ảnh hưởng từ thị trường các loại hình tài sản đối với nền kinh tế nói chung, bởi rất ít người nghĩ khả năng này có thể xảy ra.

Các chuyên gia kinh tế vĩ mô cũng không nhận ra một điều: mô hình chuẩn của họ cho rằng thị trường vốn sẽ hoạt động hoàn hảo. Mô hình của họ phản ánh bất đồng dai dẳng giữa những nhà kinh tế theo Keynes cho rằng nền kinh tế có thể họat động ở dưới mức tiềm năng và những người có quan điểm thuần túy vẫn cho rằng cung sẽ luôn luôn gặp cầu.

Với việc cho rằng thị trường vốn hoạt động hiệu quả, các chuyên gia kinh tế vĩ mô đã lờ đi biến động ngành tài chính. Thế nhưng những mô hình lờ đi ngành tài chính sẽ không thể nhận diện ra được thảm hoạ bắt nguồn từ chính ngành này.

Vậy làm sao để giải quyết vấn đề này? Khủng hoảng tài chính đã dập tắt quan điểm cho rằng chính sách tiền tệ là cách tốt nhất để giúp quy trình kinh doanh hoạt động bình thường. Tại nhiều nước, tỷ lệ lãi suất ngắn hạn đã rơi xuống mức gần 0%, trong bối cảnh khủng hoảng ngân hàng, chính sách tiền tệ không phát huy được nhiều tác dụng như trước.

Khi công cụ của họ không phát huy nhiều tác dụng, hai bên lại quay về lập trường ban đầu của mnh và lờ đi ý tưởng của phe bên kia. Những người ủng hộ Keynes như ông Krugman đã trở thành những người ủng hộ không chỉ trích của việc kích thích tài khóa. Những người theo quan điểm thuần túy lại lên tiếp phản đối. Đối với những người ngoài cuộc, sự lộn xộn này cho thấy công việc của các chuyên gia kinh tế học vô dụng đến thế nào.

Nếu tính gộp tất cả những lời chỉ trích trên, rõ ràng cần đưa ra một hệ thống lý thuyết mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Thời kỳ Đại Suy thoái những năm 1930 đã khiến học thuyết của Keynes trở nên thịnh hành, đến năm 1970, tình trạng lạm phát đình đốn đã gây ra phản ứng dữ dội, sức phá huỷ dần hình thành. Các Ngân hàng Trung ương bận đưa những phân tích về thị trường tài chính vào mô hình quản lý của họ.

Các chuyên gia kinh tế học tài chính đang nghiên cứu cách mà những kế hoạch kích thích có thể giúp thị trường hiệu quả hơn. Những rắc rối hiện nay đang buộc người ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn: mô hình kích thích tài khoá nào hiệu quả nhất? Khi lãi suất cơ bản đã về gần mức 0%, lãnh đạo hàng đầu các nền kinh tế nên nới lỏng chính sách tiền tệ như thế nào? Và còn rất nhiều vấn đề khác.

Thế nhưng một sự thay đổi về tư duy là cần thiết. Các chuyên gia kinh tế cần phải vươn ra ngoài lĩnh vực chuyên môn chính của họ: chuyên gia kinh tế vĩ mô nên hiểu về tài chính và các giáo sư tài chính cần suy nghĩ cặn kẽ hơn về bối cảnh hoạt động của thị trường.

Và tất cả mọi người cần phải cố gắng hơn để hiểu về bong bóng tài sản và điều gì sẽ xảy ra nếu bong bóng vỡ. Cuối cùng, các chuyên gia kinh tế cũng là nhà khoa học xã hội, họ nên cố gắng hiểu thế giới thực tế. Khủng hoảng tài chính đã thay đổi thế giới.

Theo Economist
Ngọc Diệp


ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM