TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Kinh tế Mỹ chứng kiến sự chuyển đổi lịch sử

06-04-2010 - 17:16 PM | Tài chính quốc tế

Kinh tế Mỹ chứng kiến sự chuyển đổi lịch sử

Khủng hoảng kinh tế – tài chính đã, đang và sẽ thay đổi động lực tăng trưởng, địa lý kinh tế và nhiều yếu tố vi mô khác của kinh tế Mỹ.

Kinh tế Mỹ sẽ chuyển mô hình phát triển, từ tiêu dùng và vay nợ sang xuất khẩu và tiết kiệm. Các chuyên gia cho rằng đây sẽ là sự thay đổi lớn nhất trong nhiều thập kỷ.
 
Ông Steve Hilton vẫn nhớ những ngày tháng tuyệt vọng sau khi ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ vào năm 2008. Khách hàng đổ xô đến văn phòng tại Meritage Homes, công ty bất động sản nơi ông Hilton làm việc, không phải để mua nhà mà để hủy những hợp đồng họ đã ký. Ông nhớ lại: “Lúc đó, thoáng chốc tôi cảm giác như ngày tận thế sắp đến.”
 
Những tháng sau đó, ông đã hết sức cố gắng để cứu công ty. Ông từ bỏ kế hoạch mua hàng ngàn mảnh đất tại bang Arizona, Florida, Nevada và California mà công ty đã có dự định thâu tóm. Cuối cùng, ông quyết định sa thải khoảng 2.300 nhân viên.
 
Ông cũng thay đổi thiết kế nhà cửa để tiết kiệm chi phí: mái đơn giản, cửa sổ ở một số khung nhất định, lựa chọn cho khách hàng ít hơn. Công ty của ông hiện chỉ thực hiện hợp đồng cho những khách hàng có khả năng vay được tiền: người mua nhà lần đầu được vay khoản vay có đảm bảo của liên bang. Công ty cố gắng hết sức để trở lại trong vai trò một công ty kinh doanh tốt.
 
Điều tương tự có thể nói về kinh tế Mỹ. Gần như tất cả các ngành tại Mỹ đều sa thải lao động trong 2 năm qua thế nhưng những công ty nào có hoạt động kinh doanh phụ thuộc vào người tiêu dùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Số lượng việc làm trong lĩnh vực bất động sản nhà ở và sản xuất xe ô tô giảm gần 1/3, trong lĩnh vực bán lẻ và ngân hàng giảm gần 8%.
 
Khi kinh tế phục hồi, một số vị trí trong các ngành trên sẽ được tuyển dụng trở lại, thế nhưng điều đó sẽ không bao giờ trở lại với một số vị trí bởi đợt suy thoái kinh tế vừa qua không giống các đợt suy thoái thông thường khác. Bong bóng giá tài sản, tín dụng lỏng lẻo như chưa bao giờ có và giá dầu giảm tạo ra thời kỳ hoàng kim của tiêu dùng Mỹ, những yếu tố trên sẽ không bao giờ trở lại.
 
Thay vào đó, kinh tế Mỹ sẽ trải qua một trong những sự chuyển dời lớn nhất trong lịch sử. Sự chuyển dời mô hình tăng trưởng kinh tế vĩ mô, từ vay nợ và tiêu dùng sang xuất khẩu và tiết kiệm sẽ mang đến nhiều thay đổi khác về kinh tế vi mô: lối sống, việc làm tại nhiều nơi khác nhau. Báo cáo đặc biệt này sẽ mô tả về sự thay đổi đó và giải thích tại sao thay đổi đó sẽ khá phức tạp.
 
Khủng hoảng và suy thoái kinh tế đã chấm dứt mô hình kinh tế cũ. Bất chấp sự phục hồi gần đây, giá nhà đất đã giảm 29% và giá cổ phiếu cũng giảm với mức tương tự so với mức đỉnh cao.
 
Tài sản của các hộ gia đình giảm khoảng 12 nghìn tỷ USD tương đương 18% từ năm 2007. Tính trong tương quan với thu nhập khả dụng, tài sản của các hộ gia đình đang trở lại mức cách đây tới 15 năm. Khi người tiêu dùng cảm thấy nghèo đi, họ sẽ hạn chế chi tiêu. Ngân hàng ngại cho vay, họ thắt chặt điều kiện các khoản vay.
 
Nợ tiêu dùng từ mức trung bình 80% thu nhập khả dụng ở thời điểm 20 năm trước đây lên mức 129% thu nhập khả dụng vào năm 2007.
 
Nếu những cuộc khủng hoảng trong nửa thế kỷ qua có thể là chỉ báo nào đó cho hiện tại, người tiêu dùng Mỹ sẽ mất 6 đến 7 năm tới để giảm nợ xuống mức họ có thể kiểm soát được. Hành vi này đã thay đổi những yếu tố căn bản trong hoạt động kinh tế. Tiêu dùng và nhà đất đóng góp 70% GDP năm 1991, đến năm 2005, con số này là 76%. Đến năm 2009, tỷ lệ này lại xuống mức 73%, vẫn cao so với mức chung của quốc tế.
 
Khi bong bóng giá tài sản “xì hơi”, tín dụng thắt chặt, giá năng lượng cao, ảnh hưởng lên nền kinh tế đã quá rõ ràng. Số lượng người mua nhà ít hơn, những căn nhà họ mua cũng nhỏ và bớt xa hoa hơn. Năm 2008, diện tích của 1 căn nhà mới tại Mỹ giảm lần đầu tiên trong 13 năm. Số lượng thẻ tín dụng đưa vào lưu thông giảm 25%. American Express hiện đang thu hẹp hoạt động đối với bộ phận thẻ tín dụng và yêu cầu khách hàng làm sao để có thể kiểm soát chi tiêu trên thẻ tín dụng của họ.
 
Thông thường, sau mỗi đợt suy thoái kinh tế, sự hồi phục diễn ra mạnh mẽ. Trong đợt suy thoái gần đây, GDP tăng trưởng âm 3,8%, mức đi xuống sâu nhất từ Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Vì thế, người ta kỳ vọng mức độ phục hồi có thể đạt từ 6% đến 8%, tỷ lệ thất nghiệp giảm đều đặn, kịch bản tương tự cũng đã xảy ra sau thời kỳ suy thoái năm 1973-1975 và 1981-1982.
 
Đừng kỳ vọng quá lớn
 
Thế nhưng đợt suy thoái kinh tế lần này lại đi theo sau đó là khủng hoảng tài chính cản trở khả năng chuyển tiền tiết kiệm sang kênh đầu tư hiệu quả của hệ thống tài chính, người tiêu dùng và doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận với nguồn vốn. Sau những thời kỳ khủng hoảng như vậy, sự phục hồi thường diễn ra chậm chạp. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn tăng trên khắp nước Mỹ dù trên thực tế trong tháng 2/2010 có giảm.
 
Vì thế nếu nước Mỹ có thể tránh được sự trì trệ giống Nhật sau thời kỳ bong bóng, yếu tố nào có thể làm nên việc này? Trong ngắn hạn, chính quyền liên bang đã đẩy mạnh vay tiền, tổng số tiền vay lên tới 10% GDP trong năm 2010 để giúp ngăn đầu tư và tiêu dùng suy giảm.
 
Trong vài năm tới, gói kích cầu sẽ bị rút đi. Tổng thống Obama muốn thâm hụt ngân sách xuống mức khoảng 3% GDP ở thời điểm giữa thập kỷ này dù hiện nay vẫn chưa chắc ông sẽ làm được điều đó bằng cách nào, chính phủ có thể sợ hãi việc rút đi kế hoạch kích thích quá sớm sẽ có thể đẩy kinh tế rơi vào suy thoái.
Tín dụng thắt chặt, tiêu dùng đi xuống không phải là yếu tố duy nhất thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế. Yếu tố khác chính là việc giá năng lượng tăng cao. Đồng USD mạnh và nguồn cung dồi dào khiến giá dầu ở mức thấp suốt thập niên 1990, người Mỹ phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Nay mọi chuyện đã khác, một vài năm trước khủng hoảng, đồng USD giảm giá, nhu cầu dầu quá lớn từ nhóm nước mới nổi tạo ra nhiều áp lực lên sản xuất dầu trên toàn cầu.

Việc giá dầu tăng gấp 4 lần từ thập niên 1990 đã điều chỉnh hành vi của cả người tiêu dùng và nhà sản xuất. Xe đa dụng thể thao không còn được ưa chuộng như trước, các nhà hoạch định chính sách chú trọng nhiều hơn đến vấn đề môi trường và năng lượng tái sinh, các công ty sản xuất khai thác được nhiều hơn từ những khu vực đất ngầm tại Mỹ và biển.

Nhập khẩu dầu từ năm 2006 đến nay giảm 10% và nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm. Khi giá khí đốt tự nhiên giảm cùng với giá dầu vào đầu thập kỷ này, nhóm nước khai thác sử dụng các biện pháp mới để khai thác tại những khu vực mới.

Địa lý kinh tế của Mỹ sẽ thay đổi. Giá xăng giảm, tín dụng dồi dào, người Mỹ đổ xô đến các bang miền Nam và khu vực xa xôi, tìm những ngôi nhà lớn với nhiều đất. Thế nhưng, khủng hoảng nhà đất xảy ra, họ mắc kẹt ở những ngôi nhà mà họ không biết bán cho ai. Tăng trưởng dân số tại những khu vực này chững lại.

Hiện nay khi sự phát triển của những ngành nghề cần tri thức tăng cao, những khu vực với cơ sở hạ tầng tốt và nhân sự trình độ cao được chú trọng. Đó là những nơi như New York và một số thành phố khác có nhiều việc làm, những căn nhà có giá cả phải chăng và không tốn quá nhiều thời gian đi lại.

Năng suất lao động tăng có thể khiến thu nhập và lợi nhuận tăng cao. Người tiêu dùng có thể trả nợ và tiếp tục tiêu dùng. Sự thay đổi về yếu tố làm nên tăng trưởng sẽ có tác dụng: năng suất lao động trong lĩnh vực xây dựng vẫn ở mức thấp, trong lĩnh vực xuất khẩu, những công ty nào sản xuất ra sản lượng cao nhất thường kinh doanh tốt nhất. Trong khi đó, hệ thống tài chính còn khó khăn sẽ khiến những người không tiếp cận được tài chính khó có thể tiếp cận được với nguồn tài chính, sự đổi mới khó có thể đến.

Triển vọng đầu tư doanh nghiệp phụ thuộc vào việc tiền đầu tư đó dành cho thiết bị hay nhà xưởng. Chi tiêu vào thiết bị sẽ vẫn ở mức cao, nhìn chung tránh được sự thừa mứa như thời kỳ bùng nổ, quý 4/2009 đầu tư tăng trưởng với tốc độ trung bình năm đạt 19%.

Tháng 2/2010, ông John Chambers, chủ tịch Cisco, nhận xét: “Hiện tại là một trong những bước ngoặt lớn nhất và tích cực nhất trong sự nghiệp của tôi.” Nhu cầu đối với nhà xưởng mới còn thấp hơn: các cửa hàng và văn phòng trống rỗng. Đầu tư doanh nghiệp thường chỉ đóng góp từ 10% đến 12% GDP vì thế đầu tư doanh nghiệp không thể đủ để là thay thế cho tiêu dùng người dân.

Con đường hồi phục

 
Khi người tiêu dùng khôi phục lại tiền tiết kiệm, các công ty Mỹ buộc phải tìm kiếm các thị trường nước ngoài nhiều hơn. Họ có nhiều việc phải làm. Sự cạnh tranh từ những nước thu nhập thấp, chủ yếu là Trung Quốc, đã lấy đi thị phần tại nước Mỹ của những ngành nội thất, quần áo và hàng điện tử tiêu dùng.
 
Tuy nhiên mô hình tăng trưởng kinh tế toàn cầu và đồng USD yếu đang tạo cái nền cần thiết cho xuất khẩu tăng trưởng. Ông Bruce Kasman, chuyên gia kinh tế trưởng tại JP Morgan Chase, nhận xét :”Hiện tồn tại quan điểm rằng nước Mỹ là nước tiêu dùng của thế giới và nhóm thị trường mới nổi là nhà sản xuất. Điều này đã thay đổi.” Ông khẳng định nước Mỹ sẽ chỉ đóng góp 27% vào tiêu dùng toàn cầu trong năm nay, trong khi đó con số này đối với thị trường mới nổi là 34%, đảo ngược lại thị phần cách đây 8 năm.
 
Đồng USD yếu sẽ giúp hồi sinh một số ngành trên thị trường hàng hóa, thế nhưng nhóm công ty hưởng lợi lớn nhất sẽ là những công ty hiện đã mạnh về xuất khẩu. Sự đi lên của nhóm công ty này phản ánh sức mạnh của Mỹ trong sản xuất hàng cao cấp như thiết bị y tế, dược phẩm, phần mền và sản phẩm kỹ thuật, ngoài ra còn là những ngành có dịch vụ sáng tạo cao như phim ảnh, kiến trúc và quảng cáo.
 
Chỉ có nước Mỹ mới có siêu phẩm Avatar với doanh thu 2,6 tỷ USD, 70% đến từ thị trường nước khác ngoài Mỹ, con số lợi nhuận của Avatar dự kiến sẽ còn cao hơn nữa.

Sau khủng hoảng, xuất khẩu là con đường thông thường để cứu một nước thoát khỏi khủng hoảng. Kịch bản đó đã diễn ra tại Thụy Điển và Phần Lan thập niên 1990 và Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc cuối thập niên 1990. Kinh tế những nước này hồi phục mạnh mẽ từ suy thoái bằng việc có được thặng dư thương mại. Thế nhưng xét đến quy mô và tình trạng hiện nay của kinh tế Mỹ, nước Mỹ sẽ khó khăn hơn nhiều.

Hàng hóa từ Mỹ vào thị trường mới nổi nhiều hơn so với thị trường các nước phát triển, thế nhưng nếu một số nước như Trung Quốc không đưa ra biện pháp kích thích nhu cầu nội địa, vấn đề mất cân bằng trên phạm vi toàn cầu sẽ còn lâu mới được giải quyết.

Thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ, thước đo tốt nhất về thương mại giữa nước này với phần còn lại của thế giới, giảm từ mức 6% GDP năm 2006 xuống 3% GDP năm 2009. Con số này có thể về 0%? Điều này suýt nữa đã xảy ra vào năm 1991 sau 5 năm kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh. Lần này, mức thâm hụt lớn hơn và kinh tế phần còn lại của thế giới yếu hơn. Chỉ cần thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ ở mức 3% GDP đã là hợp lý bởi điều đó sẽ giúp làm chậm tăng trưởng nợ nước ngoài của Mỹ.



Ngọc Diệp
Tổng hợp theo Dân Trí,VnMedia/Economist

ngocdiep

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM